Điều mà thị trường lo ngại là tác động của giá xăng mới lên chỉ số giá có thể khiến chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 4 khó thấp. Mục tiêu kiềm chế lạm phát cả năm dưới 7% ngày càng xa vời, và liệu chính sách tiền tệ còn “liều thuốc” nào “sốc” hơn nữa?
Một số phân tích của tổ chức trong nước khá trái ngược về dự đoán tác động của việc tăng giá xăng dầu lên CPI và định hướng chính sách tiền tệ tới đây.
Theo dự báo của Bộ Tài chính, việc tăng giá xăng dầu hôm 29/3 có thể khiến CPI năm 2011 tăng thêm khoảng 0,4%. Công ty Chứng khoán HSC cũng dự kiến mức đóng góp của giá xăng vào CPI tháng 4 thêm 0,3-0,4%. Mô hình dự báo của tổ chức này dự đoán CPI tháng 4 khoảng 1,5%.
Công ty Chứng khoán Ngân hàng Ngoại thương (VCBS) khá bi quan cũng cho rằng việc phải tăng giá xăng khá gấp trong hơn một tháng qua phản ánh áp lực lớn. Giá xăng dầu thế giới tăng trong khi quỹ bình ổn xăng dầu được Chính phủ dùng để hỗ trợ các doanh nghiệp nhập khẩu thời gian qua đã được sử dụng gần hết trong khi các giải pháp tài chính khác như giảm thuế nhập khẩu xuống mức 0% khiến Chính phủ gần như không còn dư địa chính sách để giảm áp lực điều chỉnh giá.
Theo tổ chức này, việc tăng giá xăng dầu, giá điện trong tháng 2 và tháng 3 đã đội chi phí vận chuyển cũng như yếu tố đầu vào của nhiều mặt hàng tăng cao, nhất là cước vận tải tăng 6,69% và đẩy CPI tháng 3 tăng 2,17%. Việc tăng giá xăng dầu cuối tháng 3 sẽ phản ánh khá đầy đủ vào CPI tháng 4. VCBS dự đoán mức tăng CPI tháng tới khó dưới 1,5%.
Thị trường chứng khoán lo ngại CPI từ góc độ các chính sách nào sẽ được thực thi để kiềm chế lạm phát. Rõ ràng dư địa để khống chế lạm phát theo mục tiêu của Quốc hội là quá ít. Liệu sức ép lạm phát đang tăng lên có khiến Ngân hàng Nhà nước mạnh tay hơn trong việc thắt chặt tiền tệ để trung hòa tác động?
Thực tế việc giảm cung tiền vẫn đang được Ngân hàng Nhà nước thực hiện thông qua các nghiệp vụ thị trường mở. Tuy nhiên hoạt động này ít được thị trường chú ý vì hơi khó nhận ra. Những công cụ được nhiều người lo ngại nhất vẫn là lãi suất và dự trữ bắt buộc.
Tình trạng cân bằng tạm thời của thị trường chứng khoán cũng phản ánh một bộ phận nhà đầu tư chấp nhận đánh cược vào khả năng không thắt chặt thêm nữa chính sách tiền tệ, mà cụ thể là tăng thêm các mức lãi suất hoặc tăng dự trữ bắt buộc. Thanh khoản thị trường rất thấp cũng phản ánh một bộ phận nhà đầu tư chấp nhận đứng ngoài, chờ đợi những chuyển biến rõ ràng hơn của chính sách.
Tương quan giằng co hiện tại khó có thể cải thiện ngày một ngày hai, nhưng riêng việc thị trường chấp nhận thêm các tin xấu một cách bình thản cũng đã phản ánh sự chai lỳ nhất định trong tâm lý.
Theo Vneconomy
Hiển thị các bài đăng có nhãn thông tin thị trường. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn thông tin thị trường. Hiển thị tất cả bài đăng
Thứ Năm, 31 tháng 3, 2011
Thứ Ba, 29 tháng 3, 2011
Tin thị trường- tài chính
Kết luận của Thủ tướng về việc thực hiện Nghị quyết 11
Đảm bảo tăng trưởng tín dụng dưới 20%; công bố cụ thể số tiết kiệm khi thực hiện tiết kiệm 10% chi thường xuyên, giảm bội chi xuống dưới 5%; nhập siêu không quá 10% tổng kim ngạch XK.
Để thực hiện hiệu quả các giải pháp kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội như đã nêu trong Nghị quyết 11/NQ-CP của Chính phủ, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng yêu cầu các Bộ, ngành, địa phương tập trung vào một số nội dung sau.
Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đảm bảo tốc độ tăng trưởng tín dụng năm 2011 dưới 20%; tổng phương tiện thanh toán khoảng 15- 16%; ưu tiên vốn tín dụng cho phát triển sản xuất, kinh doanh, nông nghiệp, nông thôn, xuất khẩu, công nghiệp hỗ trợ, doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Cùng với đó, NHNN điều hành chủ động, linh hoạt các công cụ chính sách tiền tệ để đảm bảo kiềm chế lạm phát.
NHNN khẩn trương trình Chính phủ ban hành quy định xử phạt đối với các trường hợp kinh doanh, mua bán ngoại tệ trái phép nhưng vẫn phải đảm bảo lợi ích chính đáng của người dân và doanh nghiệp.
Công bố số tiết kiệm 10% chi thường xuyên
Thủ tướng yêu cầu Bộ Tài chính xác định và công bố cụ thể số tiết kiệm khi thực hiện tiết kiệm thêm 10% chi thường xuyên; có biện pháp giảm bội chi ngân sách trong năm 2011 xuống dưới 5%.
Các Bộ, cơ quan không tổ chức họp tập trung mà phải họp trực tuyến để tăng cường tiết kiệm.
Bộ Kế hoạch và Đầu tư dự kiến kết quả cắt giảm, điều chuyển vốn, tập trung cho các công trình, dự án hoàn thành năm 2011 (có danh mục cụ thể) báo cáo Chính phủ trong phiên họp thường kỳ tháng 4/2011.
Bộ Tài chính thực hiện việc kiểm soát và bình ổn giá xăng dầu theo đúng quy định pháp luật. Ngoài ra, Bộ Công Thương chỉ đạo để đảm bảo cung cấp đủ cho nhu cầu sản xuất, tiêu dùng trong nước.
Nhập siêu không quá 16% tổng kim ngạch xuất khẩu
Để tháo gỡ khó khăn trong sản xuất kinh doanh, Thủ tướng yêu cầu Bộ Công Thương kiểm soát chặt chẽ kế hoạch cung ứng điện 2011; phấn đấu tiết kiệm điện được 10% theo Nghị quyết 02/NQ-CP của Chính phủ.
Bộ Công Thương thực hiện các biện pháp đẩy mạnh xuất khẩu, kiểm soát nhập khẩu phù hợp với cam kết quốc tế, bảo đảm nhập siêu không quá 16% tổng kim ngạch xuất khẩu.
Bộ Tài chính nghiên cứu chính sách thuế đối với bất động sản để hạn chế tình trạng đầu cơ, bảo đảm thị trường này phát triển lành mạnh.
Theo Chinhphu.vn
Đảm bảo tăng trưởng tín dụng dưới 20%; công bố cụ thể số tiết kiệm khi thực hiện tiết kiệm 10% chi thường xuyên, giảm bội chi xuống dưới 5%; nhập siêu không quá 10% tổng kim ngạch XK.
Để thực hiện hiệu quả các giải pháp kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội như đã nêu trong Nghị quyết 11/NQ-CP của Chính phủ, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng yêu cầu các Bộ, ngành, địa phương tập trung vào một số nội dung sau.
Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đảm bảo tốc độ tăng trưởng tín dụng năm 2011 dưới 20%; tổng phương tiện thanh toán khoảng 15- 16%; ưu tiên vốn tín dụng cho phát triển sản xuất, kinh doanh, nông nghiệp, nông thôn, xuất khẩu, công nghiệp hỗ trợ, doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Cùng với đó, NHNN điều hành chủ động, linh hoạt các công cụ chính sách tiền tệ để đảm bảo kiềm chế lạm phát.
NHNN khẩn trương trình Chính phủ ban hành quy định xử phạt đối với các trường hợp kinh doanh, mua bán ngoại tệ trái phép nhưng vẫn phải đảm bảo lợi ích chính đáng của người dân và doanh nghiệp.
Công bố số tiết kiệm 10% chi thường xuyên
Thủ tướng yêu cầu Bộ Tài chính xác định và công bố cụ thể số tiết kiệm khi thực hiện tiết kiệm thêm 10% chi thường xuyên; có biện pháp giảm bội chi ngân sách trong năm 2011 xuống dưới 5%.
Các Bộ, cơ quan không tổ chức họp tập trung mà phải họp trực tuyến để tăng cường tiết kiệm.
Bộ Kế hoạch và Đầu tư dự kiến kết quả cắt giảm, điều chuyển vốn, tập trung cho các công trình, dự án hoàn thành năm 2011 (có danh mục cụ thể) báo cáo Chính phủ trong phiên họp thường kỳ tháng 4/2011.
Bộ Tài chính thực hiện việc kiểm soát và bình ổn giá xăng dầu theo đúng quy định pháp luật. Ngoài ra, Bộ Công Thương chỉ đạo để đảm bảo cung cấp đủ cho nhu cầu sản xuất, tiêu dùng trong nước.
Nhập siêu không quá 16% tổng kim ngạch xuất khẩu
Để tháo gỡ khó khăn trong sản xuất kinh doanh, Thủ tướng yêu cầu Bộ Công Thương kiểm soát chặt chẽ kế hoạch cung ứng điện 2011; phấn đấu tiết kiệm điện được 10% theo Nghị quyết 02/NQ-CP của Chính phủ.
Bộ Công Thương thực hiện các biện pháp đẩy mạnh xuất khẩu, kiểm soát nhập khẩu phù hợp với cam kết quốc tế, bảo đảm nhập siêu không quá 16% tổng kim ngạch xuất khẩu.
Bộ Tài chính nghiên cứu chính sách thuế đối với bất động sản để hạn chế tình trạng đầu cơ, bảo đảm thị trường này phát triển lành mạnh.
Theo Chinhphu.vn
Thứ Hai, 28 tháng 3, 2011
Tăng dự trữ bắt buộc: Không nên trì hoãn
Dự trữ bắt buộc (DTBB) là công cụ chính sách tiền tệ có tác dụng mạnh và tức thì thường được các ngân hàng trung ương sử dụng để giảm cung tiền và kiềm chế lạm phát. Đơn cử, Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc vừa tăng tỷ lệ DTBB đối với các NHTM lớn lên tới 20% để kiềm chế lạm phát.
Tại Việt Nam, mặc dù kiềm chế lạm phát là mục tiêu hàng đầu trong năm nay, nhưng đến nay, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) vẫn để mức DTBB khá thấp và chưa có ý định sử dụng công cụ này. Lý giải cho việc "chưa sử dụng chứ không phải không sử dụng công cụ này", Thống đốc NHNN cho rằng, nếu sử dụng công cụ này ngay lập tức cùng với việc tăng các mức lãi suất chủ chốt nhằm thắt chặt tiền tệ thì sẽ đặt các NHTM đứng trước khó khăn lớn về thanh khoản.
Tuy nhiên, nhiều chuyên gia ngân hàng không đồng tình với cách lý giải này. Một chuyên gia phân tích, Thông tư 19/2010/TT-NHNN sửa đổi một số điều của Thông tư 13/2010/TT-NHNN đang được áp dụng để làm tăng tính an toàn cho hệ thồng ngân hàng. Những thông tư này quy định việc cấp tín dụng từ nguồn vốn huy động không được vượt quá tỷ lệ 80% đối với các NHTM. Điều đó có nghĩa, huy động được 100 đồng thì các NHTM chỉ được cho vay tối đa 80 đồng, 20 đồng còn lại phải để dự phòng thanh khoản dưới dạng tiền mặt, giấy tờ có giá hay các tài sản có thể nhanh chóng chuyển thành tiền mặt. Đó là chưa kể, các NHTM chỉ được tính 25% lượng tiền gửi không kỳ hạn của các tổ chức kinh tế (trừ TCTD) vào nguồn vốn huy động để cho vay.
Rõ ràng, với quy định như vậy và nếu các NHTM thực hiện nghiêm túc quy định của Thông tư 19 thì việc tăng DTBB sẽ không gây khó khăn về thanh khoản cho các NHTM. Đơn giản là các NHTM chỉ cần chuyển phần dự trữ tại ngân hàng mình về quỹ dự trữ của NHNN. Có chăng, chỉ đẩy chi phí vốn của các ngân hàng lên cao, do lãi suất tiền gửi dự trữ bắt buộc chỉ là 1,2%/năm trong khi nếu các NHTM dùng phần 20% để lại này đầu tư vào trái phiếu chính phủ thì lãi suất cũng tới 11%/năm. Còn nếu một số ngân hàng nhỏ có gặp khó khăn về thanh khoản thì NHNN còn có các công cụ khác như thị trường mở (OMO) hay tái cấp vốn để hỗ trợ cho các ngân hàng này.
Trao đổi với ĐTCK, lãnh đạo cao cấp một NHTM nói: "Nếu hỏi 100 ngân hàng, sẽ có 101 ngân hàng nói không muốn tăng DTBB". Lý do là gì? Theo TS. Nguyễn Trí Hiếu, chuyên gia tài chính ngân hàng, mặc dù không thể dùng 20% nguồn vốn huy động để cấp tín dụng, nhưng trên thực tế, các ngân hàng vẫn có thể sử dụng cho những hoạt động phi tín dụng như mua trái phiếu của Chính phủ, doanh nghiệp, cho vay trên thị trường liên ngân hàng… Do vậy, nếu tăng DTBB thì một lượng tiền lớn sẽ đổ vào NHNN, các ngân hàng mất lượng vốn khả dụng, tăng chi phí vốn nên không mặn mà với việc tăng DTBB là chuyện đương nhiên. Vì vậy, nếu tăng DTBB lên 10%, NHNN nên điều chỉnh việc cấp tín dụng từ nguồn vốn huy động lên 90%. "NHNN nên thả lỏng vốn khả dụng cho tín dụng để đền bù vào nguồn vốn khả dụng hụt đi vì DTBB tăng", TS. Nguyễn Trí Hiếu nói.
Nhiều chuyên gia ngân hàng khuyến nghị mạnh hơn là NHNN nên xóa bỏ những quy định bất hợp lý của Thông tư 13 và Thông tư 19, để cho công cụ DTBB có thể thực hiện đúng chức năng của nó. Thực ra, về vấn đề này, thời gian qua, Ủy ban Giám sát Tài chính quốc gia cũng đã nhiều lần kiến nghị NHNN nên xóa bỏ quy định về tỷ lệ cấp tín dụng từ nguồn vốn cho vay, quay trở về điều hành bằng công cụ DTBB. "Việc làm này chẳng những sẽ giảm nhiều chi phí vốn cho các NHTM, tạo tiền đề để giảm mặt bằng lãi suất mà thay vì những hồ chứa nhỏ nằm rải rác tại các NHTM, NHNN có thể quy tụ về thành một hồ chứa lớn tại NHNN để đảm bảo thanh khoản cho cả hệ thống", một quan chức của Ủy ban này cho biết.
3 tháng vừa qua, chỉ số lạm phát vẫn đang tăng cao, vì vậy, NHNN không nên trì hoãn việc sử dụng công cụ DTBB khi tốc độ tăng trưởng tín dụng đến cuối tháng 3 vượt trên 5%, tháng 6 trên 9-10%, tháng 9 trên 15% so với cuối năm ngoái như người đứng đầu NHNN nhấn mạnh tại Hội nghị triển khai Nghị quyết 11 và Chỉ thị 01 của ngành Ngân hàng vừa qua. "Đối với tiền gửi dưới 12 tháng, DTBB nên tăng từ 3% lên khoảng 7% đến 10%, còn trên 12 tháng, nên tăng từ 2% lên khoảng 5% đến 7%", TS. Nguyễn Trí Hiếu gợi ý.
Hồng Dung
ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN
Tại Việt Nam, mặc dù kiềm chế lạm phát là mục tiêu hàng đầu trong năm nay, nhưng đến nay, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) vẫn để mức DTBB khá thấp và chưa có ý định sử dụng công cụ này. Lý giải cho việc "chưa sử dụng chứ không phải không sử dụng công cụ này", Thống đốc NHNN cho rằng, nếu sử dụng công cụ này ngay lập tức cùng với việc tăng các mức lãi suất chủ chốt nhằm thắt chặt tiền tệ thì sẽ đặt các NHTM đứng trước khó khăn lớn về thanh khoản.
Tuy nhiên, nhiều chuyên gia ngân hàng không đồng tình với cách lý giải này. Một chuyên gia phân tích, Thông tư 19/2010/TT-NHNN sửa đổi một số điều của Thông tư 13/2010/TT-NHNN đang được áp dụng để làm tăng tính an toàn cho hệ thồng ngân hàng. Những thông tư này quy định việc cấp tín dụng từ nguồn vốn huy động không được vượt quá tỷ lệ 80% đối với các NHTM. Điều đó có nghĩa, huy động được 100 đồng thì các NHTM chỉ được cho vay tối đa 80 đồng, 20 đồng còn lại phải để dự phòng thanh khoản dưới dạng tiền mặt, giấy tờ có giá hay các tài sản có thể nhanh chóng chuyển thành tiền mặt. Đó là chưa kể, các NHTM chỉ được tính 25% lượng tiền gửi không kỳ hạn của các tổ chức kinh tế (trừ TCTD) vào nguồn vốn huy động để cho vay.
Rõ ràng, với quy định như vậy và nếu các NHTM thực hiện nghiêm túc quy định của Thông tư 19 thì việc tăng DTBB sẽ không gây khó khăn về thanh khoản cho các NHTM. Đơn giản là các NHTM chỉ cần chuyển phần dự trữ tại ngân hàng mình về quỹ dự trữ của NHNN. Có chăng, chỉ đẩy chi phí vốn của các ngân hàng lên cao, do lãi suất tiền gửi dự trữ bắt buộc chỉ là 1,2%/năm trong khi nếu các NHTM dùng phần 20% để lại này đầu tư vào trái phiếu chính phủ thì lãi suất cũng tới 11%/năm. Còn nếu một số ngân hàng nhỏ có gặp khó khăn về thanh khoản thì NHNN còn có các công cụ khác như thị trường mở (OMO) hay tái cấp vốn để hỗ trợ cho các ngân hàng này.
Trao đổi với ĐTCK, lãnh đạo cao cấp một NHTM nói: "Nếu hỏi 100 ngân hàng, sẽ có 101 ngân hàng nói không muốn tăng DTBB". Lý do là gì? Theo TS. Nguyễn Trí Hiếu, chuyên gia tài chính ngân hàng, mặc dù không thể dùng 20% nguồn vốn huy động để cấp tín dụng, nhưng trên thực tế, các ngân hàng vẫn có thể sử dụng cho những hoạt động phi tín dụng như mua trái phiếu của Chính phủ, doanh nghiệp, cho vay trên thị trường liên ngân hàng… Do vậy, nếu tăng DTBB thì một lượng tiền lớn sẽ đổ vào NHNN, các ngân hàng mất lượng vốn khả dụng, tăng chi phí vốn nên không mặn mà với việc tăng DTBB là chuyện đương nhiên. Vì vậy, nếu tăng DTBB lên 10%, NHNN nên điều chỉnh việc cấp tín dụng từ nguồn vốn huy động lên 90%. "NHNN nên thả lỏng vốn khả dụng cho tín dụng để đền bù vào nguồn vốn khả dụng hụt đi vì DTBB tăng", TS. Nguyễn Trí Hiếu nói.
Nhiều chuyên gia ngân hàng khuyến nghị mạnh hơn là NHNN nên xóa bỏ những quy định bất hợp lý của Thông tư 13 và Thông tư 19, để cho công cụ DTBB có thể thực hiện đúng chức năng của nó. Thực ra, về vấn đề này, thời gian qua, Ủy ban Giám sát Tài chính quốc gia cũng đã nhiều lần kiến nghị NHNN nên xóa bỏ quy định về tỷ lệ cấp tín dụng từ nguồn vốn cho vay, quay trở về điều hành bằng công cụ DTBB. "Việc làm này chẳng những sẽ giảm nhiều chi phí vốn cho các NHTM, tạo tiền đề để giảm mặt bằng lãi suất mà thay vì những hồ chứa nhỏ nằm rải rác tại các NHTM, NHNN có thể quy tụ về thành một hồ chứa lớn tại NHNN để đảm bảo thanh khoản cho cả hệ thống", một quan chức của Ủy ban này cho biết.
3 tháng vừa qua, chỉ số lạm phát vẫn đang tăng cao, vì vậy, NHNN không nên trì hoãn việc sử dụng công cụ DTBB khi tốc độ tăng trưởng tín dụng đến cuối tháng 3 vượt trên 5%, tháng 6 trên 9-10%, tháng 9 trên 15% so với cuối năm ngoái như người đứng đầu NHNN nhấn mạnh tại Hội nghị triển khai Nghị quyết 11 và Chỉ thị 01 của ngành Ngân hàng vừa qua. "Đối với tiền gửi dưới 12 tháng, DTBB nên tăng từ 3% lên khoảng 7% đến 10%, còn trên 12 tháng, nên tăng từ 2% lên khoảng 5% đến 7%", TS. Nguyễn Trí Hiếu gợi ý.
Hồng Dung
ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN
Thứ Năm, 24 tháng 3, 2011
Tin thị trường- tài chính
GSO: CPI cả nước tháng 3 tăng 2,17%
Tổng cục Tống kê Việt Nam (GSO) vừa công bố chỉ số giá tiêu dùng cả nước tháng 2/2011. Theo đó con số tăng CPI cả nước không vượt con số dự đoán 2,2% mà Bộ kế hoạch đầu tư đưa ra trước đó.
So với tháng 2/2011, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) cả nước tăng 2,17%. Trong 11 nhóm hàng được đưa vào tính CPI, không có mặt hàng nào giảm giá.
Nhóm hàng giao thông có mức tăng lớn nhất 6,69%. Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống sau khi chiếm ngôi tăng mạnh nhất nhiều tháng liền đứng vị trí thứ 3 trong số các mắt hàng tăng giá với mức tăng 3,06%.
Nhóm nhà ở và vật liệu xây dựng chiếm mức tăng lớn thứ 2 với mức tăng 3,67%.
Điều này cũng có thể lý giải do giá xăng dầu trong tháng 3 tăng cao, kéo theo giá vận tải chuyên chở cũng phải tăng theo và tất yếu khi chi phí đầu vào ( giá vân chuyển ) tăng thì giá của đầu ra ( thực phẩm, ăn uống, nguyên vật liệu...) cũng tăng. Tháng 3 có thể coi là thời điểm “ nóng” của giá cả tất cả các mặt hàng.
Bên cạnh đó,Tổng cục Thống kê vừa công bố số liệu xuất nhập khẩu tháng 3 và quý 1/2011. Trên góc nhìn của cơ quan này, tình hình ngoại thương đã khởi sắc trở lại sau tháng Tết “đuối sức”, nhưng nhập siêu lại tiếp tục vọt cao.
Mặc dù chưa lấy lại được mốc 7,9 tỷ USD kim ngạch của tháng 1/2011, xuất khẩu tháng này đã tăng tới gần 45,4% so với tháng Tết trong dự báo của cơ quan thống kê, để đạt mức 7,05 tỷ USD. Con số này cũng cao hơn tháng cùng kỳ năm trước tới trên 26%.
Việc có tới hai tháng của quý 1/2011 kim ngạch xuất khẩu vượt 7 tỷ USD là tin mừng, nếu nhìn trên khía cạnh phục hồi của thị trường tiêu thụ, của tác động hỗ trợ sản xuất trong nước, của tăng thu ngoại tệ…
Tuy nhiên, quan điểm gần đây xuất phát từ Bộ Kế hoạch và Đầu tư tỏ ra còn nghi ngại, cho rằng đây có thể là biểu hiện của chuyển sản xuất công nghệ thấp, giá trị gia tăng ít, gây ô nhiễm từ quốc gia khác sang Việt Nam.
Quan điểm trên cũng có phần hợp lý, nếu nhìn vào tốc độ tăng trưởng nhập khẩu song song với xuất khẩu. Theo ước tính của Tổng cục Thống kê, kim ngạch nhập khẩu tháng 3 trở lại mức 8,2 tỷ USD, cao nhất kể từ đầu năm đến nay. So với tháng trước, con số này đã tăng gần 37,6%, so với tháng cùng kỳ năm 2010 cũng vượt cao hơn xấp xỉ 21,5%.
Trong lịch sử ngoại thương Việt Nam, kim ngạch nhập khẩu tháng này chỉ còn kém mức 8,8 tỷ USD của tháng 12/2010, cũng là hai tháng duy nhất kim ngạch nhập khẩu đã vượt 8 tỷ USD.
Theo đó, nhập siêu tháng 3 này cũng đạt mức kỷ lục của quý 1/2011, ở con số ước tính là 1,15 tỷ USD; trong khi các tháng trước là 0,88 tỷ USD (tháng 1/2011) và 1,11 tỷ USD (tháng 2/2011). Với kết quả này, xu hướng nhập siêu đang tăng dần theo các tháng.
Hội đồng Quản trị Ngân hàng Thương mại Cổ phần Công thương - Vietinbank (mã CTG-HOSE) đã xây dựng đề án phát hành trái phiếu quốc tế với khối lượng phát hành khoảng 500 – 1 tỷ USD, trình Đại hội đồng cổ đông thường niên 2011 vào ngày 4/4 tới…
VietinBank cho biết, phát hành trái phiếu quốc tế là kênh huy động vốn nhiều tiềm năng, cho phép tổ chức phát hành có thể huy động vốn trung dài hạn với quy mô lớn và lãi suất hợp lý trên thị trường quốc tế.
Tổng khối lượng phát hành khoảng 500 – 1 tỷ USD sẽ là nguồn vốn trung dài hạn bổ sung để VietinBank đáp ứng nhu cầu vốn cho hoạt động kinh doanh, tài trợ các dự án đầu tư phát triển, thúc đẩy sản suất kinh doanh, góp phần công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Nguồn: Tổng hợp ( Cafef.vn, Vneconomy.com)
Tổng cục Tống kê Việt Nam (GSO) vừa công bố chỉ số giá tiêu dùng cả nước tháng 2/2011. Theo đó con số tăng CPI cả nước không vượt con số dự đoán 2,2% mà Bộ kế hoạch đầu tư đưa ra trước đó.
So với tháng 2/2011, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) cả nước tăng 2,17%. Trong 11 nhóm hàng được đưa vào tính CPI, không có mặt hàng nào giảm giá.
Nhóm hàng giao thông có mức tăng lớn nhất 6,69%. Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống sau khi chiếm ngôi tăng mạnh nhất nhiều tháng liền đứng vị trí thứ 3 trong số các mắt hàng tăng giá với mức tăng 3,06%.
Nhóm nhà ở và vật liệu xây dựng chiếm mức tăng lớn thứ 2 với mức tăng 3,67%.
Điều này cũng có thể lý giải do giá xăng dầu trong tháng 3 tăng cao, kéo theo giá vận tải chuyên chở cũng phải tăng theo và tất yếu khi chi phí đầu vào ( giá vân chuyển ) tăng thì giá của đầu ra ( thực phẩm, ăn uống, nguyên vật liệu...) cũng tăng. Tháng 3 có thể coi là thời điểm “ nóng” của giá cả tất cả các mặt hàng.
Bên cạnh đó,Tổng cục Thống kê vừa công bố số liệu xuất nhập khẩu tháng 3 và quý 1/2011. Trên góc nhìn của cơ quan này, tình hình ngoại thương đã khởi sắc trở lại sau tháng Tết “đuối sức”, nhưng nhập siêu lại tiếp tục vọt cao.
Mặc dù chưa lấy lại được mốc 7,9 tỷ USD kim ngạch của tháng 1/2011, xuất khẩu tháng này đã tăng tới gần 45,4% so với tháng Tết trong dự báo của cơ quan thống kê, để đạt mức 7,05 tỷ USD. Con số này cũng cao hơn tháng cùng kỳ năm trước tới trên 26%.
Việc có tới hai tháng của quý 1/2011 kim ngạch xuất khẩu vượt 7 tỷ USD là tin mừng, nếu nhìn trên khía cạnh phục hồi của thị trường tiêu thụ, của tác động hỗ trợ sản xuất trong nước, của tăng thu ngoại tệ…
Tuy nhiên, quan điểm gần đây xuất phát từ Bộ Kế hoạch và Đầu tư tỏ ra còn nghi ngại, cho rằng đây có thể là biểu hiện của chuyển sản xuất công nghệ thấp, giá trị gia tăng ít, gây ô nhiễm từ quốc gia khác sang Việt Nam.
Quan điểm trên cũng có phần hợp lý, nếu nhìn vào tốc độ tăng trưởng nhập khẩu song song với xuất khẩu. Theo ước tính của Tổng cục Thống kê, kim ngạch nhập khẩu tháng 3 trở lại mức 8,2 tỷ USD, cao nhất kể từ đầu năm đến nay. So với tháng trước, con số này đã tăng gần 37,6%, so với tháng cùng kỳ năm 2010 cũng vượt cao hơn xấp xỉ 21,5%.
Trong lịch sử ngoại thương Việt Nam, kim ngạch nhập khẩu tháng này chỉ còn kém mức 8,8 tỷ USD của tháng 12/2010, cũng là hai tháng duy nhất kim ngạch nhập khẩu đã vượt 8 tỷ USD.
Theo đó, nhập siêu tháng 3 này cũng đạt mức kỷ lục của quý 1/2011, ở con số ước tính là 1,15 tỷ USD; trong khi các tháng trước là 0,88 tỷ USD (tháng 1/2011) và 1,11 tỷ USD (tháng 2/2011). Với kết quả này, xu hướng nhập siêu đang tăng dần theo các tháng.
Hội đồng Quản trị Ngân hàng Thương mại Cổ phần Công thương - Vietinbank (mã CTG-HOSE) đã xây dựng đề án phát hành trái phiếu quốc tế với khối lượng phát hành khoảng 500 – 1 tỷ USD, trình Đại hội đồng cổ đông thường niên 2011 vào ngày 4/4 tới…
VietinBank cho biết, phát hành trái phiếu quốc tế là kênh huy động vốn nhiều tiềm năng, cho phép tổ chức phát hành có thể huy động vốn trung dài hạn với quy mô lớn và lãi suất hợp lý trên thị trường quốc tế.
Tổng khối lượng phát hành khoảng 500 – 1 tỷ USD sẽ là nguồn vốn trung dài hạn bổ sung để VietinBank đáp ứng nhu cầu vốn cho hoạt động kinh doanh, tài trợ các dự án đầu tư phát triển, thúc đẩy sản suất kinh doanh, góp phần công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Nguồn: Tổng hợp ( Cafef.vn, Vneconomy.com)
Thứ Tư, 23 tháng 3, 2011
Tin kinh tế- thị trường tài chính
M&A công ty chứng khoán: Giờ đã điểm?
Năm 2010, hầu hết các công ty chứng khoán Việt Nam đều thua lỗ. Điều đáng nói là tình trạng bấp bênh đã kéo dài từ 2-3 năm nay. Xu thế tất yếu
Theo Tiến sĩ Đinh Thế Hiển, M&A trong lĩnh vực tài chính - chứng khoán hiện đứng đầu Việt Nam về số thương vụ và giá trị chuyển nhượng.
Ông cũng cho biết, xu hướng M&A đã bắt đầu từ năm 2008 khi kinh tế suy giảm khiến hoạt động kinh doanh của công ty chứng khoán gặp nhiều khó khăn. Đến năm 2009 - 2010, hoạt động này đã sôi động hơn và dự báo sẽ được đẩy mạnh trong năm nay.
Gần đây nhất là vào ngày 10.3, Đại hội đồng cổ đông của Công ty Chứng khoán FPT (FPTS) đã thống nhất sẽ chào bán riêng lẻ 11 triệu cổ phiếu cho đối tác Nhật SBI Securities với giá 45.000 đồng/cổ phần trong năm nay. Cuối tháng 2.2011, Công ty Chứng khoán Nikko Cordial (Nhật) cũng đã mua 14,9% cổ phần trong Công ty Chứng khoán Dầu khí (PSI).Hoạt động M&A sẽ được đẩy mạnh trong năm nay còn do yêu cầu tái cơ cấu của thị trường. Hiện nay, có khoảng 105 công ty chứng khoán đăng ký tại Trung tâm Lưu ký Chứng khoán, nhưng tới hơn 50% trong số này đang hoạt động cầm chừng.
4 xu hướng M&A
Ông Sơn, VCP, cho rằng sẽ có 4 xu hướng M&A diễn ra trong năm 2011. Trong đó, sáp nhập để chuyển đổi mô hình thành công ty đầu tư sẽ là xu hướng chính. Xu hướng thứ 2 là đối tác nước ngoài thâm nhập thị trường chứng khoán Việt Nam qua M&A. Xu hướng thứ 3 là các công ty chứng khoán có năng lực cạnh tranh thấp sáp nhập với nhau, qua đó bổ sung cho nhau những năng lực còn yếu.Ngoài ra, còn có một xu hướng khác: các tổ chức tài chính trong nước thâu tóm các công ty chứng khoán.
Theo Cafef
Năm 2010, hầu hết các công ty chứng khoán Việt Nam đều thua lỗ. Điều đáng nói là tình trạng bấp bênh đã kéo dài từ 2-3 năm nay. Xu thế tất yếu
Theo Tiến sĩ Đinh Thế Hiển, M&A trong lĩnh vực tài chính - chứng khoán hiện đứng đầu Việt Nam về số thương vụ và giá trị chuyển nhượng.
Ông cũng cho biết, xu hướng M&A đã bắt đầu từ năm 2008 khi kinh tế suy giảm khiến hoạt động kinh doanh của công ty chứng khoán gặp nhiều khó khăn. Đến năm 2009 - 2010, hoạt động này đã sôi động hơn và dự báo sẽ được đẩy mạnh trong năm nay.
Gần đây nhất là vào ngày 10.3, Đại hội đồng cổ đông của Công ty Chứng khoán FPT (FPTS) đã thống nhất sẽ chào bán riêng lẻ 11 triệu cổ phiếu cho đối tác Nhật SBI Securities với giá 45.000 đồng/cổ phần trong năm nay. Cuối tháng 2.2011, Công ty Chứng khoán Nikko Cordial (Nhật) cũng đã mua 14,9% cổ phần trong Công ty Chứng khoán Dầu khí (PSI).Hoạt động M&A sẽ được đẩy mạnh trong năm nay còn do yêu cầu tái cơ cấu của thị trường. Hiện nay, có khoảng 105 công ty chứng khoán đăng ký tại Trung tâm Lưu ký Chứng khoán, nhưng tới hơn 50% trong số này đang hoạt động cầm chừng.
4 xu hướng M&A
Ông Sơn, VCP, cho rằng sẽ có 4 xu hướng M&A diễn ra trong năm 2011. Trong đó, sáp nhập để chuyển đổi mô hình thành công ty đầu tư sẽ là xu hướng chính. Xu hướng thứ 2 là đối tác nước ngoài thâm nhập thị trường chứng khoán Việt Nam qua M&A. Xu hướng thứ 3 là các công ty chứng khoán có năng lực cạnh tranh thấp sáp nhập với nhau, qua đó bổ sung cho nhau những năng lực còn yếu.Ngoài ra, còn có một xu hướng khác: các tổ chức tài chính trong nước thâu tóm các công ty chứng khoán.
Theo Cafef
Thứ Ba, 22 tháng 3, 2011
Một số tin tức đáng chú ý ngày 22/3
• Ngân hàng Nhà nước đã tăng tỷ giá bình quân liên ngân hàng lên 20.683 đồng/USD, từ mức 20.673 đồng/USD của ngày 21/3.
Mức tăng 10 đồng/USD hôm 22/3 đưa tỷ giá liên ngân hàng lên mức cao nhất kể từ ngày 25/2/2011
• Ngày 18/3 vừa qua, Ngân hàng Nhà nước đã phát đi một số thông điệp quan trọng đối với quản lý ngoại tệ, tại hội nghị giao ban trực tuyến với địa phương.
Nhiều ý kiến cho rằng, các giải pháp này vẫn mang tính tình thế, đặc biệt là sự ngập ngừng kết hối, dù Chính phủ đã “bật đèn xanh”.
Trong báo cáo số 20/BC-NHNN tại hội nghị nói trên, có ba vấn đề liên quan đến quản lý ngoại tệ đáng chú ý.
Thứ nhất, cho phép tổ chức tín dụng và khách hàng thỏa thuận tỷ giá giao dịch kỳ hạn 3 tháng đến 1 năm.
Thứ hai, cho phép tổ chức tín dụng thu phí 2% so với tỷ giá chuyển khoản niêm yết khi bán ngoại tệ cho nhu cầu chính đáng của cá nhân, nhằm để ngân hàng bù đắp chi phí nhập khẩu, kiểm đếm, lưu kho.
Thứ ba, vẫn cho đối tượng xuất khẩu vay ngoại tệ. Còn đối tượng nhập khẩu nếu chứng minh có nguồn ngoại tệ tái tạo đến hạn cũng được vay ngoại tệ.
Xoay quanh vấn đề này có rất nhiều ý kiến đưa ra. Một cán bộ kinh doanh ngoại tệ một ngân hàng lớn nhận xét rằng, khi cho phép giao dịch tỷ giá thỏa thuận (dù là kỳ hạn 3 tháng - 1 năm) có vẻ như Ngân hàng Nhà nước đang hướng đến việc thả nổi tỷ giá hơn. Còn việc thu phí 2% khi bán cho cá nhân, về bản chất, Ngân hàng Nhà nước đã thừa nhận “cơ chế hai giá”.
Liên quan đến “thu phí 2%”, ông này nêu vấn đề: “Tại sao không phải 1%, 3%, 4%... mà lại là 2%? Ngân hàng Nhà nước cần bảo vệ và chứng minh con số 2% thì mới thuyết phục!”.
Theo ông, việc thu phí 2% nói trên chỉ là giải pháp mang tính ngắn hạn của Ngân hàng Nhà nước. Vì: con số 2% có thể chỉ đúng với thời điểm hiện tại nhờ việc Chính phủ đang ráo riết ổn định lại thị trường ngoại tệ tự do nhưng trong tương lai, khi tỷ giá thực tế cao hơn thế, lại là chuyện khác.
Và rất có thể, lúc đó, nếu ngân hàng thương mại không bán cho người dân thì rất khó cho Ngân hàng Nhà nước có “nới” thêm phần trăm hay không.
Một vấn đề khác cũng chưa được Ngân hàng Nhà nước làm rõ là: khi người dân có nhu cầu chính đáng mua ngoại tệ của ngân hàng thương mại thì phải trả thêm 2% phí, nhưng khi người dân bán đứt thì có được ngân hàng thương mại cộng thêm 2% phí?
• Khoảng thời gian từ nay đến hết tháng 3 là khoảng thời gian đầy “nhạy cảm” đối với các chủ đầu tư vì dự án nào sẽ được tiếp tục, dự án nào bị loại bỏ, sẽ được quyết định.
Thông điệp của Chính phủ tại phiên khai mạc Quốc hội là sẽ cắt giảm đầu tư công, như là một phần trong việc thắt chặt chính sách tài khóa nhằm hướng tới mục tiêu giảm lạm phát và ổn định tăng trưởng vĩ mô.
Tuy nhiên, điều này không đồng nghĩa với việc sẽ cắt giảm đầu tư từ ngân sách nhà nước cũng như từ nguồn trái phiếu Chính phủ, theo xác nhận của Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Võ Hồng Phúc.
Trao đổi với VnEconomy bên lề phiên họp Quốc hội ngày 21/3, ông Phúc nói rằng Quốc hội và Chính phủ đều nhất trí không cắt giảm đầu tư từ hai nguồn trên, mà chỉ sắp xếp, điều chuyển vốn giữa các ngành và địa phương nhằm sử dụng nguồn vốn một cách hiệu quả nhất.
• Trận động đất tuy là một đòn nặng nề giáng vào nước Nhật, nhưng nhà đầu tư không nên bán tháo cổ phiếu của nước này, vì đây lại là một cơ hội tốt để mua vào, nhà đầu tư huyền thoại, tỷ phú Mỹ Warren Buffett, cho biết hôm 21/3.
Thiên tai đã gây ra nỗi đau cho người Nhật, đồng thời là đòn giáng mạnh người khổng lồ đang ngủ. Nỗi đau có thể không bao giờ nguôi ngoai, nhưng nó sẽ là động lực để nước Nhật thức dậy sau hai mươi năm chìm đắm trong cơn mê dài.
Theo tỷ phú Buffett, thảm họa thiên nhiên không ảnh hưởng xấu đến tương lai của kinh tế Nhật, mà còn mang đến cơ hội mua vào cổ phiếu. Ông nói: “Tôi không nhìn vào tương lai kinh tế của Nhật khác quá nhiều so với cách đây 10 ngày. Những gì đang diễn ra mang đến cơ hội mua vào.”
Nguồn: Tổng hợp
Mức tăng 10 đồng/USD hôm 22/3 đưa tỷ giá liên ngân hàng lên mức cao nhất kể từ ngày 25/2/2011
• Ngày 18/3 vừa qua, Ngân hàng Nhà nước đã phát đi một số thông điệp quan trọng đối với quản lý ngoại tệ, tại hội nghị giao ban trực tuyến với địa phương.
Nhiều ý kiến cho rằng, các giải pháp này vẫn mang tính tình thế, đặc biệt là sự ngập ngừng kết hối, dù Chính phủ đã “bật đèn xanh”.
Trong báo cáo số 20/BC-NHNN tại hội nghị nói trên, có ba vấn đề liên quan đến quản lý ngoại tệ đáng chú ý.
Thứ nhất, cho phép tổ chức tín dụng và khách hàng thỏa thuận tỷ giá giao dịch kỳ hạn 3 tháng đến 1 năm.
Thứ hai, cho phép tổ chức tín dụng thu phí 2% so với tỷ giá chuyển khoản niêm yết khi bán ngoại tệ cho nhu cầu chính đáng của cá nhân, nhằm để ngân hàng bù đắp chi phí nhập khẩu, kiểm đếm, lưu kho.
Thứ ba, vẫn cho đối tượng xuất khẩu vay ngoại tệ. Còn đối tượng nhập khẩu nếu chứng minh có nguồn ngoại tệ tái tạo đến hạn cũng được vay ngoại tệ.
Xoay quanh vấn đề này có rất nhiều ý kiến đưa ra. Một cán bộ kinh doanh ngoại tệ một ngân hàng lớn nhận xét rằng, khi cho phép giao dịch tỷ giá thỏa thuận (dù là kỳ hạn 3 tháng - 1 năm) có vẻ như Ngân hàng Nhà nước đang hướng đến việc thả nổi tỷ giá hơn. Còn việc thu phí 2% khi bán cho cá nhân, về bản chất, Ngân hàng Nhà nước đã thừa nhận “cơ chế hai giá”.
Liên quan đến “thu phí 2%”, ông này nêu vấn đề: “Tại sao không phải 1%, 3%, 4%... mà lại là 2%? Ngân hàng Nhà nước cần bảo vệ và chứng minh con số 2% thì mới thuyết phục!”.
Theo ông, việc thu phí 2% nói trên chỉ là giải pháp mang tính ngắn hạn của Ngân hàng Nhà nước. Vì: con số 2% có thể chỉ đúng với thời điểm hiện tại nhờ việc Chính phủ đang ráo riết ổn định lại thị trường ngoại tệ tự do nhưng trong tương lai, khi tỷ giá thực tế cao hơn thế, lại là chuyện khác.
Và rất có thể, lúc đó, nếu ngân hàng thương mại không bán cho người dân thì rất khó cho Ngân hàng Nhà nước có “nới” thêm phần trăm hay không.
Một vấn đề khác cũng chưa được Ngân hàng Nhà nước làm rõ là: khi người dân có nhu cầu chính đáng mua ngoại tệ của ngân hàng thương mại thì phải trả thêm 2% phí, nhưng khi người dân bán đứt thì có được ngân hàng thương mại cộng thêm 2% phí?
• Khoảng thời gian từ nay đến hết tháng 3 là khoảng thời gian đầy “nhạy cảm” đối với các chủ đầu tư vì dự án nào sẽ được tiếp tục, dự án nào bị loại bỏ, sẽ được quyết định.
Thông điệp của Chính phủ tại phiên khai mạc Quốc hội là sẽ cắt giảm đầu tư công, như là một phần trong việc thắt chặt chính sách tài khóa nhằm hướng tới mục tiêu giảm lạm phát và ổn định tăng trưởng vĩ mô.
Tuy nhiên, điều này không đồng nghĩa với việc sẽ cắt giảm đầu tư từ ngân sách nhà nước cũng như từ nguồn trái phiếu Chính phủ, theo xác nhận của Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Võ Hồng Phúc.
Trao đổi với VnEconomy bên lề phiên họp Quốc hội ngày 21/3, ông Phúc nói rằng Quốc hội và Chính phủ đều nhất trí không cắt giảm đầu tư từ hai nguồn trên, mà chỉ sắp xếp, điều chuyển vốn giữa các ngành và địa phương nhằm sử dụng nguồn vốn một cách hiệu quả nhất.
• Trận động đất tuy là một đòn nặng nề giáng vào nước Nhật, nhưng nhà đầu tư không nên bán tháo cổ phiếu của nước này, vì đây lại là một cơ hội tốt để mua vào, nhà đầu tư huyền thoại, tỷ phú Mỹ Warren Buffett, cho biết hôm 21/3.
Thiên tai đã gây ra nỗi đau cho người Nhật, đồng thời là đòn giáng mạnh người khổng lồ đang ngủ. Nỗi đau có thể không bao giờ nguôi ngoai, nhưng nó sẽ là động lực để nước Nhật thức dậy sau hai mươi năm chìm đắm trong cơn mê dài.
Theo tỷ phú Buffett, thảm họa thiên nhiên không ảnh hưởng xấu đến tương lai của kinh tế Nhật, mà còn mang đến cơ hội mua vào cổ phiếu. Ông nói: “Tôi không nhìn vào tương lai kinh tế của Nhật khác quá nhiều so với cách đây 10 ngày. Những gì đang diễn ra mang đến cơ hội mua vào.”
Nguồn: Tổng hợp
Thứ Hai, 21 tháng 3, 2011
Thông tư 38: Áp “biên độ” mới cho phí môi giới chứng khoán
Với cổ phiếu và chứng chỉ quỹ mà các công ty chứng khoán thu là từ 0,15% đến 0,5% giá trị giao dịch, với trái phiếu là 0,02 % đến 0,1% giá trị giao dịch.
Bộ Tài chính vừa ban hành Thông tư số 38/2011/TT-BTC qui định về mức thu, chế độ thu nộp, quản lý và sử dụng phí hoạt động chứng khoán với “biên độ”.
Cụ thể, theo Thông tư số 38, phí môi giới mua, bán chứng khoán (áp dụng cho cả chứng khoán đăng ký giao dịch tại UpCOM) đối với cổ phiếu và chứng chỉ quỹ mà các công ty chứng khoán thu là từ 0,15% đến 0,5% giá trị giao dịch, với trái phiếu là 0,02 % đến 0,1% giá trị giao dịch.
Trước đây, mức phí môi giới giao dịch được ban hành trong Thông tư số 01/2000/TT-UBCK1 của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước qui định phí dịch vụ môi giới (hoa hồng môi giới) mua, bán chứng khoán với cổ phiếu, chứng chỉ quỹ đầu tư mà các công ty chứng khoán thu tối đa không quá 0,75% trị giá giao dịch; với trái phiếu thì tối đa không quá 0,5% trị giá giao dịch.
Tuy nhiên, sau đó, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước đã ban hành Thông tư số 02/2000/TT-UBCK1 để sửa đổi cho Thông tư 01 với phí dịch vụ môi giới (hoa hồng môi giới) mua, bán chứng khoán đối với cổ phiếu, chứng chỉ quỹ đầu tư tối đa không quá 0,5% và trái phiếu tối đa không quá 0,15% trị giá giao dịch.
Như vậy, so với các quy định trước đó, Thông tư số 38 của Bộ Tài chính đã tạo ra một “biên độ” mới cho phí giao dịch chứng khoán. Vì trước đó, các Thông tư 01 và Thông tư 02 chỉ qui định mức tối đa cho mức phí giao dịch. Việc sửa đổi này có thể hiểu là Bộ Tài chính áp cơ chế “sàn” trong phí môi giới, qua đó giới hạn việc cạnh tranh phí giữa các thành viên.
Ngoài mức phí trên, Thông tư 38 cũng qui định mức phí bảo lãnh phát hành mà các công ty chứng khoán, ngân hàng thương mại được thu là từ 0,5% đến 2% tổng giá trị bảo lãnh phát hành đối với cổ phiếu.
Còn với các công ty quản lý quỹ chỉ được thu tối đa 2%/giá trị vốn uỷ thác bình quân/năm đối với phí quản lý danh mục đầu tư và tối đa 2%/giá trị tài sản ròng của quỹ (NAV) hoặc giá trị tài sản ròng của danh mục/năm với phí quản lý quỹ đầu tư.
Thông tư 38 sẽ có hiệu lực thi hành từ ngày 1/5/2011.
Theo Minh Anh
Vneconomy
Bộ Tài chính vừa ban hành Thông tư số 38/2011/TT-BTC qui định về mức thu, chế độ thu nộp, quản lý và sử dụng phí hoạt động chứng khoán với “biên độ”.
Cụ thể, theo Thông tư số 38, phí môi giới mua, bán chứng khoán (áp dụng cho cả chứng khoán đăng ký giao dịch tại UpCOM) đối với cổ phiếu và chứng chỉ quỹ mà các công ty chứng khoán thu là từ 0,15% đến 0,5% giá trị giao dịch, với trái phiếu là 0,02 % đến 0,1% giá trị giao dịch.
Trước đây, mức phí môi giới giao dịch được ban hành trong Thông tư số 01/2000/TT-UBCK1 của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước qui định phí dịch vụ môi giới (hoa hồng môi giới) mua, bán chứng khoán với cổ phiếu, chứng chỉ quỹ đầu tư mà các công ty chứng khoán thu tối đa không quá 0,75% trị giá giao dịch; với trái phiếu thì tối đa không quá 0,5% trị giá giao dịch.
Tuy nhiên, sau đó, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước đã ban hành Thông tư số 02/2000/TT-UBCK1 để sửa đổi cho Thông tư 01 với phí dịch vụ môi giới (hoa hồng môi giới) mua, bán chứng khoán đối với cổ phiếu, chứng chỉ quỹ đầu tư tối đa không quá 0,5% và trái phiếu tối đa không quá 0,15% trị giá giao dịch.
Như vậy, so với các quy định trước đó, Thông tư số 38 của Bộ Tài chính đã tạo ra một “biên độ” mới cho phí giao dịch chứng khoán. Vì trước đó, các Thông tư 01 và Thông tư 02 chỉ qui định mức tối đa cho mức phí giao dịch. Việc sửa đổi này có thể hiểu là Bộ Tài chính áp cơ chế “sàn” trong phí môi giới, qua đó giới hạn việc cạnh tranh phí giữa các thành viên.
Ngoài mức phí trên, Thông tư 38 cũng qui định mức phí bảo lãnh phát hành mà các công ty chứng khoán, ngân hàng thương mại được thu là từ 0,5% đến 2% tổng giá trị bảo lãnh phát hành đối với cổ phiếu.
Còn với các công ty quản lý quỹ chỉ được thu tối đa 2%/giá trị vốn uỷ thác bình quân/năm đối với phí quản lý danh mục đầu tư và tối đa 2%/giá trị tài sản ròng của quỹ (NAV) hoặc giá trị tài sản ròng của danh mục/năm với phí quản lý quỹ đầu tư.
Thông tư 38 sẽ có hiệu lực thi hành từ ngày 1/5/2011.
Theo Minh Anh
Vneconomy
Thời điểm hợp lý để tích lũy cổ phiếu?
Thế nhưng nhiều nhà phân tích cho rằng, một khi đã xác định rõ các rủi ro đối với TTCK thì đồng nghĩa các kịch bản xấu nhất cũng đã được các nhà đầu tư (NĐT) định hình.
Trước hiện tượng chững giá (không còn giảm mạnh) của phần lớn cổ phiếu (CP) trên thị trường trong thời gian qua, không ít nhà phân tích cho rằng, giai đoạn từ cuối tháng 3 tới đầu tháng 4 sẽ là thời điểm tốt nhất để mua CP.
Giá CP khó giảm sâu
Có thể nói, rủi ro mà các NĐT chứng khoán lo ngại hiện nay là chính sách siết chặt tiền tệ, lãi suất cao, hoạt động của các doanh nghiệp bị đình trệ... Điều này sẽ khiến từ các chỉ số kinh tế vĩ mô đến kết quả kinh doanh của các doanh nghiệp trên thị trường “không được đẹp” trong một, hai quý tới.
Thế nhưng nhiều nhà phân tích cho rằng, một khi đã xác định rõ các rủi ro đối với TTCK thì đồng nghĩa các kịch bản xấu nhất cũng đã được các nhà đầu tư (NĐT) định hình. Ví dụ như khi kinh tế vĩ mô tiếp tục có những tin tức bất lợi sẽ khiến thị trường phản ứng đến đâu? Khi thị trường vào mùa công bố báo cáo quý, nhiều DN công bố kết quả tồi sẽ khiến giá CP giảm thêm bao nhiêu phần trăm?
Ông Vũ Thanh Tùng, đại diện một quỹ đầu tư Hàn Quốc tại Hà Nội cho rằng, với các rủi ro đã xác định như trên, trong trường hợp rủi ro có xảy ra thì giá CP cũng chỉ giảm thêm khoảng 10% bởi với hiện trạng hiện nay, giá CP khó có thể giảm thêm.
Thống kê giá trị CP trên TTCK Việt Nam của một quỹ đầu tư cho biết, chỉ số P/B (giá trị sổ sách) của CP trên sàn Hà Nội (HNX) đang ở mức 1,1 lần, thấp nhất trong lịch sử TTCK. Chỉ số này vào lúc TTCK bị tác động mạnh nhất của khủng hoảng kinh tế thế giới (tháng 2/2009) cũng chỉ là 1,2-1,3 lần. Cũng chỉ số này của CP trên sàn chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh (HoSE) là 1,3 lần.
Tổng hợp trên 2 sàn hiện có 339 doanh nghiệp có CP với P/B nhỏ hơn 1, chiếm ½ số DN niêm yết. Chưa hết, nhiều mã CP đang ở mức giá 10.000 đồng/CP nhưng tỉ lệ cổ tức là hơn 10%/năm thậm chí 15%/năm.
Đó là các nhóm CP ngành ngân hàng, thủy điện, khai thác đá, vật liệu xây dựng và các DN sản xuất hàng tiêu dùng có hoạt động SXKD ổn định và dòng tiền tốt với thị giá thấp quanh 10.000 đồng/CP.
“Giá CP ở mức hiện tại sẽ khó có thể giảm nhiều và giảm lâu nữa!”, ông Nguyễn Chí Phúc, Giám đốc đầu tư Công ty CP Quản lý Quỹ Đầu Tư SGI (SGI Capital) nhận định. Quan điểm của ông Phúc dựa trên các phân tích: Về CPI, đạt đỉnh trong tháng 3 và sẽ giảm dần trong tháng 4. Các tháng sau đó nhiều khả năng sẽ về mức 1% và thấp hơn. Do đó, nếu nhìn về tương lai 12 tháng (từ 4/2011 – 4/2012), CPI có thể chỉ tăng dưới 10%. Đây là cơ sở quan trọng để Ngân hàng Nhà nước điều chỉnh lãi suất VND, hỗ trợ kinh tế vĩ mô khởi sắc.
Tỉ giá sẽ ổn định trong những tháng tới. Trên thực tế, tỷ giá thị trường tự do đã bình ổn trở lại về dưới 21.500 VND/USD sau khi tăng lên mức 22.500 VND/USD cách đây hơn 2 tuần. Điều này bước đầu cho thấy hiệu quả của những chính sách của Chính phủ đã đưa ra và đang thực hiện.
Về lãi suất huy động USD sẽ giảm trong thời gian tới do nhu cầu cho vay USD của Ngân hàng (NH) giảm xuống theo quy định mới về hạn chế cho vay USD đối với các doanh nghiệp (DN) không có nguồn thu ngoại tệ. Cạnh đó, với các chính sách điều tiết lãi suất của NH, việc giữ USD và gửi vào NH sẽ kém hấp dẫn hơn. Việc kiểm soát chặt kênh USD và vàng tự do cũng sẽ khiến dòng tiền trong nước hạn chế chảy vào các kênh này làm bớt đi căng thẳng về tỷ giá và dự trữ ngoại hối.
Thị trường đã an toàn?
Theo các môi giới của một số CTCK chiếm thị phần lớn, tỷ lệ vay/tiền mặt đang có hoặc tỷ lệ vay/hạn mức cấp tối đa của các NĐT đều đang ở mức rất thấp từ khi sản phẩm margin (đòn bẩy) xuất hiện từ giữa năm 2010. Điều này phản ánh, sức mua hiện có là thực và lớn, trong khi áp lực bán giải chấp nếu có sẽ không đáng ngại. Một tín hiệu nữa là dòng tiền bắt đầu nộp ròng vào tài khoản.
Hiện tượng này thường xảy ra khi thị trường suy giảm mạnh và tạo đáy. So sánh 2 kênh đầu tư ở thời điểm này thì chứng khoán có lợi thế hơn BĐS vì đã trải qua đợt suy giảm rất mạnh và kéo dài, giá CP đã xuống mức khá thấp. Theo đó, chỉ cần một tỷ lệ nhỏ trong số ước tính khoảng 40 tỷ USD găm giữ vàng và ngoại tệ trong dân quay lại nền kinh tế và đổ vào TTCK cũng sẽ tạo ra lực đẩy mạnh.
Một hiện tượng đáng tin cậy mỗi khi thị trường tạo đáy hay giá CP đã giảm xuống mức hấp dẫn là cổ đông nội bộ, cổ đông lớn và các DN đăng ký mua vào.
Điều này càng đáng tin cậy trong bối cảnh khó khăn về lãi suất và thanh khoản. Đây sẽ là điểm tựa vững chắc cho niềm tin quay trở lại thị trường. “TTCK Việt Nam đã từng cho thấy trong những điều kiện khó khăn, tiền tệ thắt chặt nhất, lãi suất cao nhất (6-7/2008 lãi suất huy động 19,5%/năm), tỷ giá biến động mạnh (15.000 lên 19.500 VND/USD) thì thị trường vẫn luôn có sức bật mạnh mẽ với lượng tiền sẵn có trong dân. Vì vậy, không cần tới khi tiền tệ nới lỏng và cung tiền tăng lên, thị trường vẫn có thể có những bước phục hồi mạnh khi những thông tin tích cực hơn bắt đầu hé lộ!”, ông Phúc nhận định.
Theo Xuân Hương
Báo Tin Tức
Trước hiện tượng chững giá (không còn giảm mạnh) của phần lớn cổ phiếu (CP) trên thị trường trong thời gian qua, không ít nhà phân tích cho rằng, giai đoạn từ cuối tháng 3 tới đầu tháng 4 sẽ là thời điểm tốt nhất để mua CP.
Giá CP khó giảm sâu
Có thể nói, rủi ro mà các NĐT chứng khoán lo ngại hiện nay là chính sách siết chặt tiền tệ, lãi suất cao, hoạt động của các doanh nghiệp bị đình trệ... Điều này sẽ khiến từ các chỉ số kinh tế vĩ mô đến kết quả kinh doanh của các doanh nghiệp trên thị trường “không được đẹp” trong một, hai quý tới.
Thế nhưng nhiều nhà phân tích cho rằng, một khi đã xác định rõ các rủi ro đối với TTCK thì đồng nghĩa các kịch bản xấu nhất cũng đã được các nhà đầu tư (NĐT) định hình. Ví dụ như khi kinh tế vĩ mô tiếp tục có những tin tức bất lợi sẽ khiến thị trường phản ứng đến đâu? Khi thị trường vào mùa công bố báo cáo quý, nhiều DN công bố kết quả tồi sẽ khiến giá CP giảm thêm bao nhiêu phần trăm?
Ông Vũ Thanh Tùng, đại diện một quỹ đầu tư Hàn Quốc tại Hà Nội cho rằng, với các rủi ro đã xác định như trên, trong trường hợp rủi ro có xảy ra thì giá CP cũng chỉ giảm thêm khoảng 10% bởi với hiện trạng hiện nay, giá CP khó có thể giảm thêm.
Thống kê giá trị CP trên TTCK Việt Nam của một quỹ đầu tư cho biết, chỉ số P/B (giá trị sổ sách) của CP trên sàn Hà Nội (HNX) đang ở mức 1,1 lần, thấp nhất trong lịch sử TTCK. Chỉ số này vào lúc TTCK bị tác động mạnh nhất của khủng hoảng kinh tế thế giới (tháng 2/2009) cũng chỉ là 1,2-1,3 lần. Cũng chỉ số này của CP trên sàn chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh (HoSE) là 1,3 lần.
Tổng hợp trên 2 sàn hiện có 339 doanh nghiệp có CP với P/B nhỏ hơn 1, chiếm ½ số DN niêm yết. Chưa hết, nhiều mã CP đang ở mức giá 10.000 đồng/CP nhưng tỉ lệ cổ tức là hơn 10%/năm thậm chí 15%/năm.
Đó là các nhóm CP ngành ngân hàng, thủy điện, khai thác đá, vật liệu xây dựng và các DN sản xuất hàng tiêu dùng có hoạt động SXKD ổn định và dòng tiền tốt với thị giá thấp quanh 10.000 đồng/CP.
“Giá CP ở mức hiện tại sẽ khó có thể giảm nhiều và giảm lâu nữa!”, ông Nguyễn Chí Phúc, Giám đốc đầu tư Công ty CP Quản lý Quỹ Đầu Tư SGI (SGI Capital) nhận định. Quan điểm của ông Phúc dựa trên các phân tích: Về CPI, đạt đỉnh trong tháng 3 và sẽ giảm dần trong tháng 4. Các tháng sau đó nhiều khả năng sẽ về mức 1% và thấp hơn. Do đó, nếu nhìn về tương lai 12 tháng (từ 4/2011 – 4/2012), CPI có thể chỉ tăng dưới 10%. Đây là cơ sở quan trọng để Ngân hàng Nhà nước điều chỉnh lãi suất VND, hỗ trợ kinh tế vĩ mô khởi sắc.
Tỉ giá sẽ ổn định trong những tháng tới. Trên thực tế, tỷ giá thị trường tự do đã bình ổn trở lại về dưới 21.500 VND/USD sau khi tăng lên mức 22.500 VND/USD cách đây hơn 2 tuần. Điều này bước đầu cho thấy hiệu quả của những chính sách của Chính phủ đã đưa ra và đang thực hiện.
Về lãi suất huy động USD sẽ giảm trong thời gian tới do nhu cầu cho vay USD của Ngân hàng (NH) giảm xuống theo quy định mới về hạn chế cho vay USD đối với các doanh nghiệp (DN) không có nguồn thu ngoại tệ. Cạnh đó, với các chính sách điều tiết lãi suất của NH, việc giữ USD và gửi vào NH sẽ kém hấp dẫn hơn. Việc kiểm soát chặt kênh USD và vàng tự do cũng sẽ khiến dòng tiền trong nước hạn chế chảy vào các kênh này làm bớt đi căng thẳng về tỷ giá và dự trữ ngoại hối.
Thị trường đã an toàn?
Theo các môi giới của một số CTCK chiếm thị phần lớn, tỷ lệ vay/tiền mặt đang có hoặc tỷ lệ vay/hạn mức cấp tối đa của các NĐT đều đang ở mức rất thấp từ khi sản phẩm margin (đòn bẩy) xuất hiện từ giữa năm 2010. Điều này phản ánh, sức mua hiện có là thực và lớn, trong khi áp lực bán giải chấp nếu có sẽ không đáng ngại. Một tín hiệu nữa là dòng tiền bắt đầu nộp ròng vào tài khoản.
Hiện tượng này thường xảy ra khi thị trường suy giảm mạnh và tạo đáy. So sánh 2 kênh đầu tư ở thời điểm này thì chứng khoán có lợi thế hơn BĐS vì đã trải qua đợt suy giảm rất mạnh và kéo dài, giá CP đã xuống mức khá thấp. Theo đó, chỉ cần một tỷ lệ nhỏ trong số ước tính khoảng 40 tỷ USD găm giữ vàng và ngoại tệ trong dân quay lại nền kinh tế và đổ vào TTCK cũng sẽ tạo ra lực đẩy mạnh.
Một hiện tượng đáng tin cậy mỗi khi thị trường tạo đáy hay giá CP đã giảm xuống mức hấp dẫn là cổ đông nội bộ, cổ đông lớn và các DN đăng ký mua vào.
Điều này càng đáng tin cậy trong bối cảnh khó khăn về lãi suất và thanh khoản. Đây sẽ là điểm tựa vững chắc cho niềm tin quay trở lại thị trường. “TTCK Việt Nam đã từng cho thấy trong những điều kiện khó khăn, tiền tệ thắt chặt nhất, lãi suất cao nhất (6-7/2008 lãi suất huy động 19,5%/năm), tỷ giá biến động mạnh (15.000 lên 19.500 VND/USD) thì thị trường vẫn luôn có sức bật mạnh mẽ với lượng tiền sẵn có trong dân. Vì vậy, không cần tới khi tiền tệ nới lỏng và cung tiền tăng lên, thị trường vẫn có thể có những bước phục hồi mạnh khi những thông tin tích cực hơn bắt đầu hé lộ!”, ông Phúc nhận định.
Theo Xuân Hương
Báo Tin Tức
BMC: Giải trình cổ phiếu tăng trần liên tiếp
Ngày 10/3/2011, BMC đã được Bộ Tài nguyên và Môi trường cấp Giấy phép khai thác khoáng sản diện tích: 150 ha, thời hạn khai thác 10 năm kể từ ngày ký Giấy phép.
Công ty Cổ phần Khoáng sản Bình Định (BMC) giải trình các sự việc liên quan có ảnh hưởng đến giá cổ phiếu.
Theo BMC, từ ngày 14/3 đến 18/3, giá cổ phiếu BMC tăng trần liên tiếp không theo xu hướng của thị trường. Sự kiện này theo công ty là do 2 lý do sau:
* Ngày 10/3/2011, BMC đã được Bộ Tài nguyên và Môi trường cấp Giấy phép khai thác khoáng sản số 418/GP-BTNMT. Công ty được phép khai thác các khoáng vật nặng titan - zircon tại khu mỏ Nam Đề gi thuộc xã Cát Thành và xã Cát Hải, huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định, diện tích: 150 ha, thời hạn khai thác 10 năm kể từ ngày ký Giấy phép.
* Căn cứ Thông tư số 184/2010/TT-BTC ngày 15/11/2010 của Bộ Tài chính quy định mức thuế suất của Biểu thuế xuất khẩu, Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi theo danh mục mặt hàng chịu thuế; bắt đầu từ ngày 01/01/2011 mặt hàng Xỉ titan (TiO2 ≥ 85%) áp dụng mức thuế suất thuế xuất khẩu là 10% (năm 2010 là 15%). Điều này đã tạo điều kiện cho công ty tiêu thụ được toàn bộ sản phẩm Titan tồn kho năm trước chuyển sang.
Các thông tin trên đây tác động tích cực đến giá cổ phiếu của công ty thời gian qua.
Lộc Anh
Theo HoSE
Công ty Cổ phần Khoáng sản Bình Định (BMC) giải trình các sự việc liên quan có ảnh hưởng đến giá cổ phiếu.
Theo BMC, từ ngày 14/3 đến 18/3, giá cổ phiếu BMC tăng trần liên tiếp không theo xu hướng của thị trường. Sự kiện này theo công ty là do 2 lý do sau:
* Ngày 10/3/2011, BMC đã được Bộ Tài nguyên và Môi trường cấp Giấy phép khai thác khoáng sản số 418/GP-BTNMT. Công ty được phép khai thác các khoáng vật nặng titan - zircon tại khu mỏ Nam Đề gi thuộc xã Cát Thành và xã Cát Hải, huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định, diện tích: 150 ha, thời hạn khai thác 10 năm kể từ ngày ký Giấy phép.
* Căn cứ Thông tư số 184/2010/TT-BTC ngày 15/11/2010 của Bộ Tài chính quy định mức thuế suất của Biểu thuế xuất khẩu, Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi theo danh mục mặt hàng chịu thuế; bắt đầu từ ngày 01/01/2011 mặt hàng Xỉ titan (TiO2 ≥ 85%) áp dụng mức thuế suất thuế xuất khẩu là 10% (năm 2010 là 15%). Điều này đã tạo điều kiện cho công ty tiêu thụ được toàn bộ sản phẩm Titan tồn kho năm trước chuyển sang.
Các thông tin trên đây tác động tích cực đến giá cổ phiếu của công ty thời gian qua.
Lộc Anh
Theo HoSE
Thứ Năm, 17 tháng 3, 2011
Tỷ giá trước giờ G
Thứ Sáu tuần trước, đúng một tháng kể từ lần điều chỉnh gần nhất của Ngân hàng Nhà nước (NHNN), tỷ giá trên thị trường liên ngân hàng rơi về mức 20.900 đồng/đô la Mỹ. Đây là mốc cả thị trường tài chính chờ đợi.
Nguồn tin đáng tin cậy từ NHNN cho biết có thể từ tuần này tỷ giá do NHNN công bố hàng ngày sẽ rất linh hoạt, linh hoạt hơn hẳn những tuần qua. Có thể hiểu là độ dao động mỗi ngày của tỷ giá sẽ rộng hơn.
Những động thái bề mặt
Công ty Tài chính quốc tế (IFC) tuần trước đã bán 110 triệu đô la Mỹ cho Vietcombank theo tỷ giá niêm yết. Đây là khoản ngoại tệ lớn trong nhiều tháng qua mà Vietcombank mua được. Còn IFC thì cần tiền đồng để thanh toán tiền mua cổ phiếu của Ngân hàng Công thương.
Cũng thời điểm đó một số ngân hàng nước ngoài chào bán đô la Mỹ nhiều hơn trên thị trường liên ngân hàng. Giới tài chính phỏng đoán nguồn cung ngoại tệ này có thể xuất phát từ việc ngân hàng nước ngoài ở Việt Nam vay đô la Mỹ từ ngân hàng mẹ với lãi suất thấp khoảng 2-3%/năm, chuyển đổi sang tiền đồng cho doanh nghiệp trong nước vay hoặc kinh doanh trên thị trường liên ngân hàng với lãi suất 20%/năm. Không ít ngân hàng nước ngoài tin rằng trong 3-6 tháng tới, tỷ giá giữa đô la Mỹ và tiền đồng sẽ không có nhiều biến động, nên mức chênh lệch lãi suất sẽ mang lại cho họ khoản lợi nhuận đáng kể.
Ngay cả trong trường hợp tiền đồng có mất giá thêm 1-2% trong vòng nửa năm thì họ vẫn có lời. Ngoài ra, lãi suất tiền đồng đang ở đỉnh, khó mà cao hơn. Nếu không tận dụng ngay cơ hội, một khi lãi suất đồng nội tệ giảm xuống, mức chênh lệch lãi suất giữa hai đồng tiền sẽ không còn hấp dẫn.
Ông Don Lam, Tổng giám đốc Công ty Quản lý quỹ VinaCapital, cho biết Quỹ VOF (quỹ lớn nhất do VinaCapital quản lý) sau khi thanh lý một số khoản đầu tư vào các công ty tư nhân (private equity) đang có trong tay 140 triệu đô la Mỹ. VOF đang đợi giải ngân vào chứng khoán và một trong những dấu hiệu mà VinaCapital theo dõi hàng ngày là chênh lệch tỷ giá chính thức và thị trường tự do. “Chúng tôi đang quan sát diễn biến của lạm phát và lãi suất. Nhưng quan trọng nhất vẫn là tỷ giá. Nếu khoảng cách giữa tỷ giá của ngân hàng và thị trường tự do thu hẹp ở mức kỳ vọng, tôi nghĩ không chỉ VOF mà nhiều quỹ nước ngoài khác cũng sẽ giải ngân”.
So với ngày 11-2-2011, ngày tỷ giá mới có hiệu lực, tỷ giá do NHNN công bố ngày 12-3-2011 đã giảm 30 đồng/đô la Mỹ, từ mức 20.693 xuống 20.663 đồng/đô la Mỹ. Trong năm tuần qua, có lúc tỷ giá liên ngân hàng đã “nhảy” lên tới 21.370 đồng/đô la Mỹ, nhưng sau đó giảm dần khi NHNN liên tiếp ban hành các văn bản thắt chặt cung tiền đồng thông qua việc tăng mạnh hai lần liên tiếp một số loại lãi suất. Tỷ giá liên ngân hàng đã có nhiều ngày “tranh chấp” quyết liệt ở ngưỡng 21.000 đồng/đô la Mỹ, song cuối cùng cũng đã mất mốc trên.
Vẫn thắt chặt cung tiền đồng
Những ngày qua NHNN ban hành cùng lúc ba văn bản. Thứ nhất là Thông tư 04 áp dụng lãi suất không kỳ hạn ở mức thấp nhất đối với những khoản tiền gửi có kỳ hạn rút trước hạn. Thứ hai là Thông tư 05 cho phép các ngân hàng thu phí trong trường hợp trả nợ trước hạn và thu luôn phí trả cho hạn mức tín dụng dự phòng. Với hai thông tư này, doanh nghiệp cũng như người dân phải tính toán kỹ khoản tiền gửi/vay, thời hạn vay cũng như trả nợ, tránh gây xáo trộn vốn trong hệ thống. Sâu xa hơn, nó xóa bỏ một số điều kiện để đầu cơ. Chẳng hạn nếu nhà đầu cơ đột ngột muốn rút tiền đồng để chuyển sang ngoại tệ thì phải chịu lãi suất tiền đồng thấp, do đó buộc phải tính toán lại kỳ vọng tỷ giá tăng.
Văn bản thứ ba yêu cầu các tổ chức tín dụng báo cáo việc huy động và cho vay vốn bằng vàng. Văn bản này nhắc lại quy định của Thông tư 22 ngày 29-10-2010 yêu cầu các ngân hàng không được chuyển đổi vàng huy động thành tiền và số vàng đã chuyển thành tiền trước đó phải tất toán trước ngày 30-6-2011. Số vàng đã chuyển thành tiền lên tới hàng chục ngàn tỉ đồng. Mặc dù còn hơn ba tháng để chuyển ngược lại tiền thành vàng, nhưng việc chuyển ngược lại đòi hỏi một lượng tiền đồng lớn và đây là áp lực không nhỏ đối với một số tổ chức tín dụng.
Cung tiền đồng ngày càng trở nên eo hẹp. Các ngân hàng nhỏ đã khó lại càng khó. Lượng vốn “bơm” ra qua thị trường mở đang bị rút xuống dần. Một ngân hàng có nhiều trái phiếu Chính phủ cho biết mấy ngày nay họ phải “xếp hàng” trên thị trường mở từ sớm mà cũng chỉ “mua” được vài chục tỉ tiền đồng. Các ngân hàng nhỏ không dám xin tái cấp vốn với NHNN, vì các hồ sơ tín dụng với doanh nghiệp phần lớn cho vay bất động sản, chưa kể một số ngân hàng có những khoản đảo nợ. Vay tái cấp vốn là phải thế chấp hồ sơ tín dụng, chẳng khác nào “vạch áo cho người xem lưng”, mời thanh tra NHNN vào, nên kênh tái cấp vốn hầu như đang ngưng trệ.
Giờ G
Một khi tỷ giá liên ngân hàng ở mức thấp hợp lý, NHNN sẽ mua vào ngoại tệ nhằm tăng dự trữ ngoại hối, tiền đồng sẽ được đưa ra, cung tiền đồng tăng, lãi suất sẽ giảm. Giờ G đồng nghĩa với mức tỷ giá hợp lý nhưng mức đó là bao nhiêu, chỉ có NHNN xác định được. Nó đang rất gần!
Trước giờ G, một động thái dứt khoát nữa sẽ được thực thi: giảm lãi suất huy động ngoại tệ. Việc sửa đổi Thông tư 25 hạn chế đối tượng cho vay ngoại tệ đã gần như hoàn tất và thời điểm ban hành đang tính từng ngày. Đầu ra của ngoại tệ bị “bóp” lại, tất yếu lãi suất tiết kiệm đô la Mỹ sẽ giảm. Eximbank đã giảm ngay lãi suất huy động ngoại tệ từ 0,1-0,25%/năm các kỳ hạn khi lượng vốn huy động bằng ngoại tệ của ngân hàng này tuần qua tăng lên. Chỉ cần lãi suất tiền gửi ngoại tệ giảm một, hai phần trăm/năm so với mức hiện tại, chênh lệch lãi suất huy động đô la Mỹ và tiền đồng sẽ vượt mức 10%/năm; tiền đồng sẽ càng có giá và việc người dân chuyển từ đô la Mỹ sang tiền đồng sẽ xảy ra.
Các doanh nghiệp có nguồn thu đô la bắt đầu bán ngoại tệ cho ngân hàng. Tuy nhiên, NHNN sẽ không mua ngoại tệ dồn dập, mà khối lượng cũng như tiến độ mua sẽ phụ thuộc vào diễn biến lạm phát. Cung tiền đồng không thể được nới lỏng mạnh nếu chỉ số CPI giảm chậm chạp. Vì thế, tỷ giá trên thị trường liên ngân hàng sẽ còn xuống thang trong tuần này và những tuần sau. Theo tin mới nhất TBKTSG có được, ngày 16-3 NHNN đã bắt đầu mua ngoại tệ vào với giá thấp hơn so với giá niêm yết của một số ngân hàng.
Một quan chức cấp cao của cơ quan quản lý ngành ngân hàng cho biết, trong thời gian tới sự biến động của tỷ giá do NHNN công bố hàng ngày sẽ rộng hơn, không chỉ 5-10 đồng/ngày mà có thể 20-30 đồng/ngày và có thể xuống/lên cả tuần liền. Chỉ cần tỷ giá công bố biến động 100 đồng/tuần thì doanh nghiệp sẽ không còn tính toán có bán ngoại tệ cho ngân hàng hay không, mà là canh bán lúc nào cho có lợi nhất. Trong bối cảnh đó, biết đâu câu ngạn ngữ “đồng tiền đi trước là đồng tiền khôn” lại có giá trị? nMột khi tỷ giá liên ngân hàng ở mức thấp hợp lý, NHNN sẽ mua vào ngoại tệ nhằm tăng dự trữ ngoại hối, tiền đồng sẽ được đưa ra, cung tiền đồng tăng, lãi suất sẽ giảm.
HảiLý
TBKTSG
Nguồn tin đáng tin cậy từ NHNN cho biết có thể từ tuần này tỷ giá do NHNN công bố hàng ngày sẽ rất linh hoạt, linh hoạt hơn hẳn những tuần qua. Có thể hiểu là độ dao động mỗi ngày của tỷ giá sẽ rộng hơn.
Những động thái bề mặt
Công ty Tài chính quốc tế (IFC) tuần trước đã bán 110 triệu đô la Mỹ cho Vietcombank theo tỷ giá niêm yết. Đây là khoản ngoại tệ lớn trong nhiều tháng qua mà Vietcombank mua được. Còn IFC thì cần tiền đồng để thanh toán tiền mua cổ phiếu của Ngân hàng Công thương.
Cũng thời điểm đó một số ngân hàng nước ngoài chào bán đô la Mỹ nhiều hơn trên thị trường liên ngân hàng. Giới tài chính phỏng đoán nguồn cung ngoại tệ này có thể xuất phát từ việc ngân hàng nước ngoài ở Việt Nam vay đô la Mỹ từ ngân hàng mẹ với lãi suất thấp khoảng 2-3%/năm, chuyển đổi sang tiền đồng cho doanh nghiệp trong nước vay hoặc kinh doanh trên thị trường liên ngân hàng với lãi suất 20%/năm. Không ít ngân hàng nước ngoài tin rằng trong 3-6 tháng tới, tỷ giá giữa đô la Mỹ và tiền đồng sẽ không có nhiều biến động, nên mức chênh lệch lãi suất sẽ mang lại cho họ khoản lợi nhuận đáng kể.
Ngay cả trong trường hợp tiền đồng có mất giá thêm 1-2% trong vòng nửa năm thì họ vẫn có lời. Ngoài ra, lãi suất tiền đồng đang ở đỉnh, khó mà cao hơn. Nếu không tận dụng ngay cơ hội, một khi lãi suất đồng nội tệ giảm xuống, mức chênh lệch lãi suất giữa hai đồng tiền sẽ không còn hấp dẫn.
Ông Don Lam, Tổng giám đốc Công ty Quản lý quỹ VinaCapital, cho biết Quỹ VOF (quỹ lớn nhất do VinaCapital quản lý) sau khi thanh lý một số khoản đầu tư vào các công ty tư nhân (private equity) đang có trong tay 140 triệu đô la Mỹ. VOF đang đợi giải ngân vào chứng khoán và một trong những dấu hiệu mà VinaCapital theo dõi hàng ngày là chênh lệch tỷ giá chính thức và thị trường tự do. “Chúng tôi đang quan sát diễn biến của lạm phát và lãi suất. Nhưng quan trọng nhất vẫn là tỷ giá. Nếu khoảng cách giữa tỷ giá của ngân hàng và thị trường tự do thu hẹp ở mức kỳ vọng, tôi nghĩ không chỉ VOF mà nhiều quỹ nước ngoài khác cũng sẽ giải ngân”.
So với ngày 11-2-2011, ngày tỷ giá mới có hiệu lực, tỷ giá do NHNN công bố ngày 12-3-2011 đã giảm 30 đồng/đô la Mỹ, từ mức 20.693 xuống 20.663 đồng/đô la Mỹ. Trong năm tuần qua, có lúc tỷ giá liên ngân hàng đã “nhảy” lên tới 21.370 đồng/đô la Mỹ, nhưng sau đó giảm dần khi NHNN liên tiếp ban hành các văn bản thắt chặt cung tiền đồng thông qua việc tăng mạnh hai lần liên tiếp một số loại lãi suất. Tỷ giá liên ngân hàng đã có nhiều ngày “tranh chấp” quyết liệt ở ngưỡng 21.000 đồng/đô la Mỹ, song cuối cùng cũng đã mất mốc trên.
Vẫn thắt chặt cung tiền đồng
Những ngày qua NHNN ban hành cùng lúc ba văn bản. Thứ nhất là Thông tư 04 áp dụng lãi suất không kỳ hạn ở mức thấp nhất đối với những khoản tiền gửi có kỳ hạn rút trước hạn. Thứ hai là Thông tư 05 cho phép các ngân hàng thu phí trong trường hợp trả nợ trước hạn và thu luôn phí trả cho hạn mức tín dụng dự phòng. Với hai thông tư này, doanh nghiệp cũng như người dân phải tính toán kỹ khoản tiền gửi/vay, thời hạn vay cũng như trả nợ, tránh gây xáo trộn vốn trong hệ thống. Sâu xa hơn, nó xóa bỏ một số điều kiện để đầu cơ. Chẳng hạn nếu nhà đầu cơ đột ngột muốn rút tiền đồng để chuyển sang ngoại tệ thì phải chịu lãi suất tiền đồng thấp, do đó buộc phải tính toán lại kỳ vọng tỷ giá tăng.
Văn bản thứ ba yêu cầu các tổ chức tín dụng báo cáo việc huy động và cho vay vốn bằng vàng. Văn bản này nhắc lại quy định của Thông tư 22 ngày 29-10-2010 yêu cầu các ngân hàng không được chuyển đổi vàng huy động thành tiền và số vàng đã chuyển thành tiền trước đó phải tất toán trước ngày 30-6-2011. Số vàng đã chuyển thành tiền lên tới hàng chục ngàn tỉ đồng. Mặc dù còn hơn ba tháng để chuyển ngược lại tiền thành vàng, nhưng việc chuyển ngược lại đòi hỏi một lượng tiền đồng lớn và đây là áp lực không nhỏ đối với một số tổ chức tín dụng.
Cung tiền đồng ngày càng trở nên eo hẹp. Các ngân hàng nhỏ đã khó lại càng khó. Lượng vốn “bơm” ra qua thị trường mở đang bị rút xuống dần. Một ngân hàng có nhiều trái phiếu Chính phủ cho biết mấy ngày nay họ phải “xếp hàng” trên thị trường mở từ sớm mà cũng chỉ “mua” được vài chục tỉ tiền đồng. Các ngân hàng nhỏ không dám xin tái cấp vốn với NHNN, vì các hồ sơ tín dụng với doanh nghiệp phần lớn cho vay bất động sản, chưa kể một số ngân hàng có những khoản đảo nợ. Vay tái cấp vốn là phải thế chấp hồ sơ tín dụng, chẳng khác nào “vạch áo cho người xem lưng”, mời thanh tra NHNN vào, nên kênh tái cấp vốn hầu như đang ngưng trệ.
Giờ G
Một khi tỷ giá liên ngân hàng ở mức thấp hợp lý, NHNN sẽ mua vào ngoại tệ nhằm tăng dự trữ ngoại hối, tiền đồng sẽ được đưa ra, cung tiền đồng tăng, lãi suất sẽ giảm. Giờ G đồng nghĩa với mức tỷ giá hợp lý nhưng mức đó là bao nhiêu, chỉ có NHNN xác định được. Nó đang rất gần!
Trước giờ G, một động thái dứt khoát nữa sẽ được thực thi: giảm lãi suất huy động ngoại tệ. Việc sửa đổi Thông tư 25 hạn chế đối tượng cho vay ngoại tệ đã gần như hoàn tất và thời điểm ban hành đang tính từng ngày. Đầu ra của ngoại tệ bị “bóp” lại, tất yếu lãi suất tiết kiệm đô la Mỹ sẽ giảm. Eximbank đã giảm ngay lãi suất huy động ngoại tệ từ 0,1-0,25%/năm các kỳ hạn khi lượng vốn huy động bằng ngoại tệ của ngân hàng này tuần qua tăng lên. Chỉ cần lãi suất tiền gửi ngoại tệ giảm một, hai phần trăm/năm so với mức hiện tại, chênh lệch lãi suất huy động đô la Mỹ và tiền đồng sẽ vượt mức 10%/năm; tiền đồng sẽ càng có giá và việc người dân chuyển từ đô la Mỹ sang tiền đồng sẽ xảy ra.
Các doanh nghiệp có nguồn thu đô la bắt đầu bán ngoại tệ cho ngân hàng. Tuy nhiên, NHNN sẽ không mua ngoại tệ dồn dập, mà khối lượng cũng như tiến độ mua sẽ phụ thuộc vào diễn biến lạm phát. Cung tiền đồng không thể được nới lỏng mạnh nếu chỉ số CPI giảm chậm chạp. Vì thế, tỷ giá trên thị trường liên ngân hàng sẽ còn xuống thang trong tuần này và những tuần sau. Theo tin mới nhất TBKTSG có được, ngày 16-3 NHNN đã bắt đầu mua ngoại tệ vào với giá thấp hơn so với giá niêm yết của một số ngân hàng.
Một quan chức cấp cao của cơ quan quản lý ngành ngân hàng cho biết, trong thời gian tới sự biến động của tỷ giá do NHNN công bố hàng ngày sẽ rộng hơn, không chỉ 5-10 đồng/ngày mà có thể 20-30 đồng/ngày và có thể xuống/lên cả tuần liền. Chỉ cần tỷ giá công bố biến động 100 đồng/tuần thì doanh nghiệp sẽ không còn tính toán có bán ngoại tệ cho ngân hàng hay không, mà là canh bán lúc nào cho có lợi nhất. Trong bối cảnh đó, biết đâu câu ngạn ngữ “đồng tiền đi trước là đồng tiền khôn” lại có giá trị? nMột khi tỷ giá liên ngân hàng ở mức thấp hợp lý, NHNN sẽ mua vào ngoại tệ nhằm tăng dự trữ ngoại hối, tiền đồng sẽ được đưa ra, cung tiền đồng tăng, lãi suất sẽ giảm.
HảiLý
TBKTSG
Thông tin thị trường ngày 17/3
Sáng 17/3, giá vàng miếng các thương hiệu trong nước lùi xuống dưới dưới 36,9 triệu đồng/lượng, nhưng hiện tại đã vượt lên. Trên thị trường ngoại hối, tỷ giá USD liên ngân hàng vẫn giữ nguyên mức hôm qua.
Tính tới 12h30 trưa nay, vàng Rồng Thăng Long của công ty Bảo Tín Minh Châu được mua vào với giá 36,77 triệu đồng/lượng, bán ra ở 36,93 triệu đồng/lượng. Vàng SJC của công ty Phú Quý cùng thời điểm được mua và bán ở các mức tương tự.
Còn theo bảng giá cập nhật lúc 11h05 của Sacombank, vàng SBJ có giá mua vào là 36,88 triệu đồng/lượng, bán ra là 36,92 triệu đồng/lượng. Vàng SJC được mua vào với giá 36,86 triệu đồng/lượng, bán ra ở 36,94 triệu đồng/lượng.
Trước đó, vào lúc 9h, vàng miếng SBJ và Rồng Thăng Long đều có mức bán ra dưới 36,9 triệu đồng/lượng. Như vậy, tính tới thời điểm này (10h30), vàng trong nước đã tăng nhẹ trở lại, nhưng so với mức chốt chiều qua vẫn thấp hơn khoảng 30.000 - 40.000 đồng mỗi lượng.
Nguyên nhân khiến giá vàng trong nước tăng giảm với biên độ nhẹ, là do giá thế giới hết xuống lại lên trong sáng hôm nay. Theo bảng thanh toán trực tuyến Kitco, tính tới 12h30, vàng giao ngay tại châu Á đã lên lại mốc 1.392,6 USD/ounce. Lúc 10h05, giá vàng này đã rớt xuống còn 1.390,3 USD/ounce.
Đêm qua, giá vàng và dầu thô quốc tế đã phục hồi nhẹ, do cuộc khủng hoảng hạt nhân ngày càng trở nên trầm trọng hơn ở Nhật Bản và tình hình căng thẳng tại Bahrain.
Giá vàng giao tháng 4 trên sàn Comex tại New York tăng 3,3 USD/ounce (+0,2%) lên 1.396,10 USD/ounce. Đây là ngày thứ hai liên tiếp, giá vàng thế giới chốt phiên dưới ngưỡng 1.400 USD/ounce, dù trong ngày có lúc vàng vượt qua mốc này.
Hôm qua, Chính phủ Nhật Bản đã lệnh cho các công nhân làm việc tại nhà máy điện hạt nhân Fukushima số 1 rời khỏi khu vực này, do nguy cơ lây nhiễm phóng xạ vượt quá mức cho phép. Điều này làm tăng thêm những lo lắng về thảm họa hạt nhân tại đây.
Trong khi đó, ở Bahrain, các lực lượng an ninh đã giao tranh với những người biểu tình chống chính phủ. Báo chí quốc tế cho hay, ít nhất đã có 3 người thiệt mạng sau khi cảnh sát Bahrain nã súng vào người biểu tình.
Mở phiên hôm qua, giá vàng thế giới tăng khá nhanh, có lúc lên trên 1.406 USD/ounce, nhưng sau đó suy yếu dần khi chứng khoán Mỹ và châu Âu sụt giảm mạnh.
Giá dầu thô quốc tế hôm qua cũng tăng nhẹ trở lại. Dầu thô ngọt nhẹ giao tháng 4 trên sàn New York tăng 80 xu Mỹ (+0,8%) lên 97,98 USD/thùng. Trước đó, khi mở phiên, giá dầu kỳ hạn này đã vọt lên 99,6 USD/thùng.
Ngoài những vấn đề Nhật Bản và Bahrain, giá dầu thô quốc tế hôm qua tăng lên, còn bởi báo cáo của Cơ quan Năng lượng Quốc tế cho hay nguồn cung dầu thô trong tuần kết thúc ngày 11/3 tăng 1,7 triệu thùng, thấp hơn dự báo của giới phân tích.
Trong khi đó, tỷ giá đồng Yên so với USD hôm qua đã lên tới 77,48 Yên/USD, cao hơn mức kỷ lục xác lập trước đó là 79,75 Yên/USD. Dự báo tỷ giá này có thể chạm ngưỡng 72 Yên/USD. Đồng Yên cũng tăng lên mức 109,26 Yên/Euro.
Đồng Yên đã tăng mạnh 4 phiên liên tiếp, bất chấp Ngân hàng Trung ương Nhật Bản đã bơm hàng chục nghìn tỷ Yên vào hệ thống tài chính nhằm ổn định tình hình.
Trên thị trường ngoại hối trong nước sáng nay, tỷ giá USD bình quân liên ngân hàng tiếp tục đứng ở mức 20.658 đồng/USD, trần tỷ giá áp dụng cho các ngân hàng thương mại là 20.865 đồng/USD.
Tại Vietcombank, giá USD mua vào và bán ra vẫn giữ nguyên ở mức hôm qua 20.860 - 20.865 đồng/USD. Đồng Yên đứng ở mức 258,26 - 265,59 đồng/Yên. Đồng Euro ở mức 28.752,15 - 28.838,67 đồng/Euro giá mua và bán ra là 29.184,38 đồng.
Theo VnEconomy
Tính tới 12h30 trưa nay, vàng Rồng Thăng Long của công ty Bảo Tín Minh Châu được mua vào với giá 36,77 triệu đồng/lượng, bán ra ở 36,93 triệu đồng/lượng. Vàng SJC của công ty Phú Quý cùng thời điểm được mua và bán ở các mức tương tự.
Còn theo bảng giá cập nhật lúc 11h05 của Sacombank, vàng SBJ có giá mua vào là 36,88 triệu đồng/lượng, bán ra là 36,92 triệu đồng/lượng. Vàng SJC được mua vào với giá 36,86 triệu đồng/lượng, bán ra ở 36,94 triệu đồng/lượng.
Trước đó, vào lúc 9h, vàng miếng SBJ và Rồng Thăng Long đều có mức bán ra dưới 36,9 triệu đồng/lượng. Như vậy, tính tới thời điểm này (10h30), vàng trong nước đã tăng nhẹ trở lại, nhưng so với mức chốt chiều qua vẫn thấp hơn khoảng 30.000 - 40.000 đồng mỗi lượng.
Nguyên nhân khiến giá vàng trong nước tăng giảm với biên độ nhẹ, là do giá thế giới hết xuống lại lên trong sáng hôm nay. Theo bảng thanh toán trực tuyến Kitco, tính tới 12h30, vàng giao ngay tại châu Á đã lên lại mốc 1.392,6 USD/ounce. Lúc 10h05, giá vàng này đã rớt xuống còn 1.390,3 USD/ounce.
Đêm qua, giá vàng và dầu thô quốc tế đã phục hồi nhẹ, do cuộc khủng hoảng hạt nhân ngày càng trở nên trầm trọng hơn ở Nhật Bản và tình hình căng thẳng tại Bahrain.
Giá vàng giao tháng 4 trên sàn Comex tại New York tăng 3,3 USD/ounce (+0,2%) lên 1.396,10 USD/ounce. Đây là ngày thứ hai liên tiếp, giá vàng thế giới chốt phiên dưới ngưỡng 1.400 USD/ounce, dù trong ngày có lúc vàng vượt qua mốc này.
Hôm qua, Chính phủ Nhật Bản đã lệnh cho các công nhân làm việc tại nhà máy điện hạt nhân Fukushima số 1 rời khỏi khu vực này, do nguy cơ lây nhiễm phóng xạ vượt quá mức cho phép. Điều này làm tăng thêm những lo lắng về thảm họa hạt nhân tại đây.
Trong khi đó, ở Bahrain, các lực lượng an ninh đã giao tranh với những người biểu tình chống chính phủ. Báo chí quốc tế cho hay, ít nhất đã có 3 người thiệt mạng sau khi cảnh sát Bahrain nã súng vào người biểu tình.
Mở phiên hôm qua, giá vàng thế giới tăng khá nhanh, có lúc lên trên 1.406 USD/ounce, nhưng sau đó suy yếu dần khi chứng khoán Mỹ và châu Âu sụt giảm mạnh.
Giá dầu thô quốc tế hôm qua cũng tăng nhẹ trở lại. Dầu thô ngọt nhẹ giao tháng 4 trên sàn New York tăng 80 xu Mỹ (+0,8%) lên 97,98 USD/thùng. Trước đó, khi mở phiên, giá dầu kỳ hạn này đã vọt lên 99,6 USD/thùng.
Ngoài những vấn đề Nhật Bản và Bahrain, giá dầu thô quốc tế hôm qua tăng lên, còn bởi báo cáo của Cơ quan Năng lượng Quốc tế cho hay nguồn cung dầu thô trong tuần kết thúc ngày 11/3 tăng 1,7 triệu thùng, thấp hơn dự báo của giới phân tích.
Trong khi đó, tỷ giá đồng Yên so với USD hôm qua đã lên tới 77,48 Yên/USD, cao hơn mức kỷ lục xác lập trước đó là 79,75 Yên/USD. Dự báo tỷ giá này có thể chạm ngưỡng 72 Yên/USD. Đồng Yên cũng tăng lên mức 109,26 Yên/Euro.
Đồng Yên đã tăng mạnh 4 phiên liên tiếp, bất chấp Ngân hàng Trung ương Nhật Bản đã bơm hàng chục nghìn tỷ Yên vào hệ thống tài chính nhằm ổn định tình hình.
Trên thị trường ngoại hối trong nước sáng nay, tỷ giá USD bình quân liên ngân hàng tiếp tục đứng ở mức 20.658 đồng/USD, trần tỷ giá áp dụng cho các ngân hàng thương mại là 20.865 đồng/USD.
Tại Vietcombank, giá USD mua vào và bán ra vẫn giữ nguyên ở mức hôm qua 20.860 - 20.865 đồng/USD. Đồng Yên đứng ở mức 258,26 - 265,59 đồng/Yên. Đồng Euro ở mức 28.752,15 - 28.838,67 đồng/Euro giá mua và bán ra là 29.184,38 đồng.
Theo VnEconomy
Thứ Tư, 16 tháng 3, 2011
Vì sao khối ngoại mua mạnh CTG?
Vì sao khối ngoại mua mạnh CTG?
Những phiên gần đây, cổ phiếu CTG của Vietinbank luôn được nhà đầu tư nước ngoài mua vào rất mạnh.Tổng lượng mua vào trong 2 phiên đầu tuần này là hơn 3,76 triệu đơn vị.
Tính từ đầu năm đến nay, khối ngoại đã bỏ hơn 330 tỷ đồng để mua ròng 12,8 triệu đơn vị cổ phiếu này.
Theo chúng tôi, việc khối ngoại đẩy mạnh mua ròng CTG trong những phiên gần đây có thể xuất phát từ việc lo ngại cổ phiếu này sẽ không còn nhiều room.
Cuối tuần trước, Vietinbank đã hoàn tất việc phát hành 10% vốn điều lệ cho IFC và nếu sắp tới Bank of Nova Scotia nắm giữ tiếp 15% thì tổng room còn lại cho nhà đầu tư ngoại chỉ còn 5%.
Với việc định hướng cổ đông Nhà nước nắm giữ 65% vốn, IFC nắm 10%, Bank of Nova Scotia nắm 15% và cổ đông còn lại (lượng đang niêm yết) nắm 10% thì nhiều khả năng sẽ là phương án nhà nước bán bớt cổ phần.
Việc nhà nước bán bớt cổ phần sẽ giúp nhà nước thu được một khoản thặng dư lớn và nguồn tài trợ cho kế hoạch tăng vốn điều lệ của CTG (dự kiến tăng lên 30 nghìn tỷ đồng).
Cơ cấu cổ đông của CTG sau khi phát hành cho IFC
Hiện tại khối ngoại có thể mua toàn bộ lượng cổ phiếu đang niêm yết
Hiện tại khối ngoại đang nắm giữ khoảng 21% lượng cổ phiếu CTG đang niêm yết, tương đương 2% vốn điều lệ, tương ứng khoảng 33,6 triệu cổ phiếu.
Như vậy, sau khi Bank of Nova Scotia nắm 15% thì room còn lại chỉ có 3%, tương đương 49 triệu cổ phiếu, tính theo thị giá hiện tại là gần 1.400 tỷ đồng.
Nếu khối ngoại mua mạnh thì lượng cổ phiếu này có thể được mua hết trong một vài tháng. Cuối năm 2009, sau khi Eximbank lên sàn, khối ngoại cũng mua ròng liên tục cho đến khi hết 5% room còn trống.
Đây là số lượng trên lý thuyết vì thực tế có thể thấp hơn nhiều do cũng có những tổ chức trong nước nắm giữ với khối lượng lớn.
Các cổ phiếu ngân hàng - đặc biệt là các ngân hàng lớn - luôn có sức hấp dẫn đặc biệt đối với các tổ chức nước ngoài. Hiện ACB và EIB đã cạn room, room STB còn gần 1%.
Do đó, có thể việc room của CTG trong thời gian tới sẽ không còn nhiều là nguyên nhân/một trong những nguyên nhân khiến khối đẩy mạnh mua ròng cổ phiếu này trong những phiên gần đây.
Bên cạnh đó, theo một số thông tin chúng tôi có được, triển vọng kinh doanh của Vietinbank trong những năm tới khá tốt. Ngân hàng này đặt mục tiêu vượt Agribank về tổng tài sản vào năm 2015.
Quỹ Market Vectors Vietnam ETF đang nắm giữ 14,6 triệu cổ phiếu CTG – tăng 2 triệu đơn vị so với 1 tháng trước. Lượng cổ phiếu này tương đương 44% số cổ phiếu CTG mà nhà đầu tư nước ngoài đang nắm giữ.
Theo Cafef
Những phiên gần đây, cổ phiếu CTG của Vietinbank luôn được nhà đầu tư nước ngoài mua vào rất mạnh.Tổng lượng mua vào trong 2 phiên đầu tuần này là hơn 3,76 triệu đơn vị.
Tính từ đầu năm đến nay, khối ngoại đã bỏ hơn 330 tỷ đồng để mua ròng 12,8 triệu đơn vị cổ phiếu này.
Theo chúng tôi, việc khối ngoại đẩy mạnh mua ròng CTG trong những phiên gần đây có thể xuất phát từ việc lo ngại cổ phiếu này sẽ không còn nhiều room.
Cuối tuần trước, Vietinbank đã hoàn tất việc phát hành 10% vốn điều lệ cho IFC và nếu sắp tới Bank of Nova Scotia nắm giữ tiếp 15% thì tổng room còn lại cho nhà đầu tư ngoại chỉ còn 5%.
Với việc định hướng cổ đông Nhà nước nắm giữ 65% vốn, IFC nắm 10%, Bank of Nova Scotia nắm 15% và cổ đông còn lại (lượng đang niêm yết) nắm 10% thì nhiều khả năng sẽ là phương án nhà nước bán bớt cổ phần.
Việc nhà nước bán bớt cổ phần sẽ giúp nhà nước thu được một khoản thặng dư lớn và nguồn tài trợ cho kế hoạch tăng vốn điều lệ của CTG (dự kiến tăng lên 30 nghìn tỷ đồng).
Cơ cấu cổ đông của CTG sau khi phát hành cho IFC
Hiện tại khối ngoại có thể mua toàn bộ lượng cổ phiếu đang niêm yết
Hiện tại khối ngoại đang nắm giữ khoảng 21% lượng cổ phiếu CTG đang niêm yết, tương đương 2% vốn điều lệ, tương ứng khoảng 33,6 triệu cổ phiếu.
Như vậy, sau khi Bank of Nova Scotia nắm 15% thì room còn lại chỉ có 3%, tương đương 49 triệu cổ phiếu, tính theo thị giá hiện tại là gần 1.400 tỷ đồng.
Nếu khối ngoại mua mạnh thì lượng cổ phiếu này có thể được mua hết trong một vài tháng. Cuối năm 2009, sau khi Eximbank lên sàn, khối ngoại cũng mua ròng liên tục cho đến khi hết 5% room còn trống.
Đây là số lượng trên lý thuyết vì thực tế có thể thấp hơn nhiều do cũng có những tổ chức trong nước nắm giữ với khối lượng lớn.
Các cổ phiếu ngân hàng - đặc biệt là các ngân hàng lớn - luôn có sức hấp dẫn đặc biệt đối với các tổ chức nước ngoài. Hiện ACB và EIB đã cạn room, room STB còn gần 1%.
Do đó, có thể việc room của CTG trong thời gian tới sẽ không còn nhiều là nguyên nhân/một trong những nguyên nhân khiến khối đẩy mạnh mua ròng cổ phiếu này trong những phiên gần đây.
Bên cạnh đó, theo một số thông tin chúng tôi có được, triển vọng kinh doanh của Vietinbank trong những năm tới khá tốt. Ngân hàng này đặt mục tiêu vượt Agribank về tổng tài sản vào năm 2015.
Quỹ Market Vectors Vietnam ETF đang nắm giữ 14,6 triệu cổ phiếu CTG – tăng 2 triệu đơn vị so với 1 tháng trước. Lượng cổ phiếu này tương đương 44% số cổ phiếu CTG mà nhà đầu tư nước ngoài đang nắm giữ.
Theo Cafef
Tin kinh tế- thị trường tài chính
Triệt tiêu thị trường ngoại tệ tự do: Sẽ có những ảnh hưởng tiêu cực
Theo TS Lê Hồng Giang, sẽ có nhiều người dân, doanh nghiệp không thể mua/bán ngoại tệ được nữa cho nhu cầu hoạt động kinh tế của mình, do đó về tổng thể nền kinh tế sẽ bị thiệt hại.
Chính sách buộc các doanh nghiệp phải bán lại ngoại tệ cho ngân hàng ở mức tỷ giá không phản ánh đúng cung cầu ngoại tệ trên thị trường là một hình thức đánh thuế vào doanh nghiệp có nguồn thu ngoại tệ. Lý thuyết kinh tế chỉ ra rằng bất kỳ một loại thuế nào cũng tạo ra deadweight loss (khoản tổn thất vô ích) cho nền kinh tế. Do đó chính sách này cũng có ảnh hưởng tiêu cực vào nền kinh tế nói chung.
Nên theo quan điểm không nên bắt buộc mà để ngân hàng và doanh nghiệp thỏa thuận tỷ giá hợp lý để họ tự nguyện mua bán ngoại tệ với nhau. Một khi NHNN vẫn áp đạt một mức tỷ giá không phản ánh đúng cung cầu thì tình trạng hai tỷ giá không thể tránh khỏi, dù có tồn tại thị trường chợ đen hay không.
Lãi suất tái chiết khấu cao hơn hơn lãi suất đấu thầu trái phiếu (cùng kỳ hạn) là thông lệ quốc tế vì không ngân hàng trung ương nào muốn các ngân hàng thương mại có thể arbitrage (mua bán chênh lệch) dễ dàng bằng cách vay qua cửa sổ tái chiết khấu rồi cho chính phủ vay lại qua trái phiếu để hưởng chênh lệch lãi suất.
Việc nâng lãi suất tái chiết khấu lên như vậy là một chính sách đúng và cần thiết, tất nhiên chính phủ sẽ khó khăn hơn khi đấu thầu trái phiếu nhưng điều này phù hợp với mục tiêu giảm chi tiêu công để chống lạm phát.Các NHTM mất một nguồn thanh khoản rẻ sẽ phải tăng lãi suất huy động lên và/hoặc giảm tăng trưởng tín dụng (giảm nhu cầu thanh khoản xuống). Điều này cũng phù hợp với mục tiêu chống lạm phát, tuy nhiên sẽ có tác động tiêu cực vào tăng trưởng kinh tế nhưng đó chính là cái giá phải trả.
Theo cafef.vn
Không thể coi vàng là phương tiện thanh toán (TS Trần Du Lịch):
Các DN muốn mua vàng thỏi về chế tác nữ trang phải có đủ cơ sở, trang thiết bị mới được cấp phép. Nếu coi vàng là phương tiện thanh toán là sai. Một đất nước chỉ có một đồng tiền chung. Chúng ta cũng sẽ không nằm ngoài quy luật ấy.
Một mô hình mới cho thị trường vàng? Từ chỗ “thả rông” kinh doanh vàng “khống” và vàng vật chất, Ngân hàng Nhà nước đã siết dần lại hoạt động của thị trường vàng.
Tuy nhiên, đi tìm mô hình mới cho thị trường vàng trong thời gian tới là điều không đơn giản, và những vấn đề nóng hổi gần đây xung quanh thị trường vàng đã được đẩy lên cao trào tại một hội thảo.
Thêm ngân hàng giảm lãi suất huy động USD Ngân hàng Thương mại Cổ phần Kiên Long (Kienlong Bank) vừa áp biểu lãi suất huy động USD mới, tiếp tục giảm so với thời điểm cuối tháng 1/2011.Trước Kienlong Bank, ngày 11/3, Ngân hàng Thương mại Cổ phần Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank) cũng đã giảm lãi suất huy động USD, giảm từ 0,1% - 0,25%/năm ở tất cả các kỳ hạn. Điều này cũng có thể phản ánh nhất định kỳ vọng lãi suất huy động USD sẽ tiếp tục giảm.
Theo TS Lê Hồng Giang, sẽ có nhiều người dân, doanh nghiệp không thể mua/bán ngoại tệ được nữa cho nhu cầu hoạt động kinh tế của mình, do đó về tổng thể nền kinh tế sẽ bị thiệt hại.
Chính sách buộc các doanh nghiệp phải bán lại ngoại tệ cho ngân hàng ở mức tỷ giá không phản ánh đúng cung cầu ngoại tệ trên thị trường là một hình thức đánh thuế vào doanh nghiệp có nguồn thu ngoại tệ. Lý thuyết kinh tế chỉ ra rằng bất kỳ một loại thuế nào cũng tạo ra deadweight loss (khoản tổn thất vô ích) cho nền kinh tế. Do đó chính sách này cũng có ảnh hưởng tiêu cực vào nền kinh tế nói chung.
Nên theo quan điểm không nên bắt buộc mà để ngân hàng và doanh nghiệp thỏa thuận tỷ giá hợp lý để họ tự nguyện mua bán ngoại tệ với nhau. Một khi NHNN vẫn áp đạt một mức tỷ giá không phản ánh đúng cung cầu thì tình trạng hai tỷ giá không thể tránh khỏi, dù có tồn tại thị trường chợ đen hay không.
Lãi suất tái chiết khấu cao hơn hơn lãi suất đấu thầu trái phiếu (cùng kỳ hạn) là thông lệ quốc tế vì không ngân hàng trung ương nào muốn các ngân hàng thương mại có thể arbitrage (mua bán chênh lệch) dễ dàng bằng cách vay qua cửa sổ tái chiết khấu rồi cho chính phủ vay lại qua trái phiếu để hưởng chênh lệch lãi suất.
Việc nâng lãi suất tái chiết khấu lên như vậy là một chính sách đúng và cần thiết, tất nhiên chính phủ sẽ khó khăn hơn khi đấu thầu trái phiếu nhưng điều này phù hợp với mục tiêu giảm chi tiêu công để chống lạm phát.Các NHTM mất một nguồn thanh khoản rẻ sẽ phải tăng lãi suất huy động lên và/hoặc giảm tăng trưởng tín dụng (giảm nhu cầu thanh khoản xuống). Điều này cũng phù hợp với mục tiêu chống lạm phát, tuy nhiên sẽ có tác động tiêu cực vào tăng trưởng kinh tế nhưng đó chính là cái giá phải trả.
Theo cafef.vn
Không thể coi vàng là phương tiện thanh toán (TS Trần Du Lịch):
Các DN muốn mua vàng thỏi về chế tác nữ trang phải có đủ cơ sở, trang thiết bị mới được cấp phép. Nếu coi vàng là phương tiện thanh toán là sai. Một đất nước chỉ có một đồng tiền chung. Chúng ta cũng sẽ không nằm ngoài quy luật ấy.
Một mô hình mới cho thị trường vàng? Từ chỗ “thả rông” kinh doanh vàng “khống” và vàng vật chất, Ngân hàng Nhà nước đã siết dần lại hoạt động của thị trường vàng.
Tuy nhiên, đi tìm mô hình mới cho thị trường vàng trong thời gian tới là điều không đơn giản, và những vấn đề nóng hổi gần đây xung quanh thị trường vàng đã được đẩy lên cao trào tại một hội thảo.
Thêm ngân hàng giảm lãi suất huy động USD Ngân hàng Thương mại Cổ phần Kiên Long (Kienlong Bank) vừa áp biểu lãi suất huy động USD mới, tiếp tục giảm so với thời điểm cuối tháng 1/2011.Trước Kienlong Bank, ngày 11/3, Ngân hàng Thương mại Cổ phần Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank) cũng đã giảm lãi suất huy động USD, giảm từ 0,1% - 0,25%/năm ở tất cả các kỳ hạn. Điều này cũng có thể phản ánh nhất định kỳ vọng lãi suất huy động USD sẽ tiếp tục giảm.
Thứ Ba, 15 tháng 3, 2011
Những quan điểm xung quanh thị trường vàng đang có nhiều biến động
Theo Nghị quyết số 11 của Thủ tướng Chính phủ, trong quý II/2011 NHNN sẽ phải trình Chính phủ ban hành Nghị định mới về quản lý hoạt động kinh doanh vàng theo hướng tập trung đầu mối nhập khẩu vàng, tiến tới xóa bỏ việc kinh doanh vàng miếng trên thị trường tự do. Ngay sau khi Nghị quyết này được ban hành đã đón nhận nhiều thông tin trái chiều.
Theo bà Dương Thu Hương – Tổng thư ký VNBA, ở Việt Nam vàng được xem là một phương tiện tiền tệ và là công cụ dự trữ ngoại hối của quốc gia nên vấn đề quản lý thị trường này hoạt động đúng nguyên tắc, không gây những tác động xấu đến nền kinh tế được đặt ra là vô cùng quan trọng.
Theo TS Vũ Đình Ánh – Viện Kinh tế – Tài chính (Học viện Tài chính), vẫn biết rằng việc chuyển hóa vốn huy động vàng thành tiền Việt Nam là không đúng nhưng cũng không nên hạn chế hay cấm huy động, cho vay vàng bởi sẽ làm lãng phí một nguồn lực lớn của xã hội.
Mà cần tìm được phương án khả thi cho nguồn vốn vàng, chẳng hạn như chuyển vàng thành ngoại tệ. Bộ Tài chính huy động vàng của dân thông qua trái phiếu vàng, sau đó NHNN đưa số vàng này ra nước ngoài để hoán đổi lấy ngoại tệ, dạng như cầm cố để lấy vốn cho đầu tư.
Phát hành trái phiếu bằng vàng để huy động vốn vàng trong dân vừa tăng thanh khoản vàng, vừa giúp ngân sách nhà nước có thêm vốn để triển khai các dự án, tăng dự trữ ngoại hối, giảm lượng ngoại tệ để nhập vàng. Khi đó, thay vì phải cấp phép cho các doanh nghiệp nhập khẩu vàng thì có thể mua trực tiếp từ chính phủ.
Bà Phạm Thị Hồng Phương – Giám đốc công ty Kinh doanh vàng Vietinbank bày tỏ quan điểm, năm 2009 Chính phủ đã cấm “tổ chức thực hiện kinh doanh sàn vàng trên tài khoản dưới mọi hình thức” do chưa có cơ quan quản lý sàn vàng, chưa có các quy định, chế tài cụ thể và thiếu cơ sở pháp lý và cơ sở kinh tế kỹ thuật, hoạt động đầu tư trên sàn thiếu chuyên nghiệp.
Như vậy có thể thấy rằng, việc đóng cửa sàn vàng này chỉ có tính chất tạm thời bởi lẽ việc xuất hiện các sàn giao dịch vàng và hàng hóa là bước phát triển tất yếu của nền kinh tế, thúc đẩy sự lưu thông vàng trên thị trường.
Song nhiều chuyên gia cho rằng, nếu lặp lại hình thức kinh doanh vàng ký quỹ qua tài khoản thì không thể giải quyết được vấn đề hiện nay của thị trường vàng.
Ông Trần Trọng Quốc Khanh – TGĐ CTCP Sài Gòn Kim hoàn ACB – SJC kiến nghị, sàn vàng nên là một bộ phận trực thuộc Sở giao dịch hàng hóa (giống như Comex thuộc Nymex), tức xem vàng là một loại hàng hóa. Nhà nước đóng vai trò quản lý tập trung, các ngân hàng/doanh nghiệp là thành viên của sàn vàng.
Điều tiết hoạt động Sàn vàng bằng các giải pháp kỹ thuật như: Đối tượng tham gia, tỷ lệ ký quỹ, quy mô trạng thái mở qua đêm được phép duy trì, dư nợ ín dụng tại Sàn vàng và quan trọng là các chế tài xử lý.
Thị trường vàng được dự báo là sẽ tiếp tục còn nhiều biến động và rất cần những giải pháp đột phá để thị trường vàng không những không gây ra bất ổn vĩ mô mà còn đóng góp tích cực vào sự tăng trưởng chung của nền kinh tế.
Khánh Linh – Cao Sơn
(http://cafef.vn/20110315052330286CA34/de-xuat-lay-vang-lam-cong-cu-hoan-doi-ngoai-te.chn)
Theo bà Dương Thu Hương – Tổng thư ký VNBA, ở Việt Nam vàng được xem là một phương tiện tiền tệ và là công cụ dự trữ ngoại hối của quốc gia nên vấn đề quản lý thị trường này hoạt động đúng nguyên tắc, không gây những tác động xấu đến nền kinh tế được đặt ra là vô cùng quan trọng.
Theo TS Vũ Đình Ánh – Viện Kinh tế – Tài chính (Học viện Tài chính), vẫn biết rằng việc chuyển hóa vốn huy động vàng thành tiền Việt Nam là không đúng nhưng cũng không nên hạn chế hay cấm huy động, cho vay vàng bởi sẽ làm lãng phí một nguồn lực lớn của xã hội.
Mà cần tìm được phương án khả thi cho nguồn vốn vàng, chẳng hạn như chuyển vàng thành ngoại tệ. Bộ Tài chính huy động vàng của dân thông qua trái phiếu vàng, sau đó NHNN đưa số vàng này ra nước ngoài để hoán đổi lấy ngoại tệ, dạng như cầm cố để lấy vốn cho đầu tư.
Phát hành trái phiếu bằng vàng để huy động vốn vàng trong dân vừa tăng thanh khoản vàng, vừa giúp ngân sách nhà nước có thêm vốn để triển khai các dự án, tăng dự trữ ngoại hối, giảm lượng ngoại tệ để nhập vàng. Khi đó, thay vì phải cấp phép cho các doanh nghiệp nhập khẩu vàng thì có thể mua trực tiếp từ chính phủ.
Bà Phạm Thị Hồng Phương – Giám đốc công ty Kinh doanh vàng Vietinbank bày tỏ quan điểm, năm 2009 Chính phủ đã cấm “tổ chức thực hiện kinh doanh sàn vàng trên tài khoản dưới mọi hình thức” do chưa có cơ quan quản lý sàn vàng, chưa có các quy định, chế tài cụ thể và thiếu cơ sở pháp lý và cơ sở kinh tế kỹ thuật, hoạt động đầu tư trên sàn thiếu chuyên nghiệp.
Như vậy có thể thấy rằng, việc đóng cửa sàn vàng này chỉ có tính chất tạm thời bởi lẽ việc xuất hiện các sàn giao dịch vàng và hàng hóa là bước phát triển tất yếu của nền kinh tế, thúc đẩy sự lưu thông vàng trên thị trường.
Song nhiều chuyên gia cho rằng, nếu lặp lại hình thức kinh doanh vàng ký quỹ qua tài khoản thì không thể giải quyết được vấn đề hiện nay của thị trường vàng.
Ông Trần Trọng Quốc Khanh – TGĐ CTCP Sài Gòn Kim hoàn ACB – SJC kiến nghị, sàn vàng nên là một bộ phận trực thuộc Sở giao dịch hàng hóa (giống như Comex thuộc Nymex), tức xem vàng là một loại hàng hóa. Nhà nước đóng vai trò quản lý tập trung, các ngân hàng/doanh nghiệp là thành viên của sàn vàng.
Điều tiết hoạt động Sàn vàng bằng các giải pháp kỹ thuật như: Đối tượng tham gia, tỷ lệ ký quỹ, quy mô trạng thái mở qua đêm được phép duy trì, dư nợ ín dụng tại Sàn vàng và quan trọng là các chế tài xử lý.
Thị trường vàng được dự báo là sẽ tiếp tục còn nhiều biến động và rất cần những giải pháp đột phá để thị trường vàng không những không gây ra bất ổn vĩ mô mà còn đóng góp tích cực vào sự tăng trưởng chung của nền kinh tế.
Khánh Linh – Cao Sơn
(http://cafef.vn/20110315052330286CA34/de-xuat-lay-vang-lam-cong-cu-hoan-doi-ngoai-te.chn)
Thứ Hai, 14 tháng 3, 2011
Các cổ phiếu tác động nhiều nhất tới Vn-Index ngày 14/3
Những mã làm Vn-Index giảm mạnh hôm nay chính là những mã kéo chỉ số đi lên tuần trước.
Sau khi tăng được 35,38 điểm trong tuần trước, Vn-Index đột ngột giảm 15,16 điểm (-3,06%) xuống 479,9 điểm.
Toàn thị trường có 26 mã tăng, 221 mã giảm và 39 mã đứng giá. Số tăng chỉ mang về 0,33 điểm còn số giảm lấy đi 15,49 điểm.
Nhóm 10 cổ phiếu tác động mạnh nhất kéo Vn-Index đi xuống đã lấy đi 9,35 điểm, tương đương 62% mức giảm của chỉ số.
Tuần trước, 10 mã này mang về gần 27 điểm.
Đầu tàu kéo Vn-Index đi xuống là MSN: cổ phiếu này giảm sàn xuống 88.500 đồng qua đó lấy đi 2,17 điểm.
Tiếp đến là VIC (-1,79 điểm), HAG (-1,14 điểm), BVH (-0,96 điểm), DPM, PVF, VPL…
Phía tăng giá, SSI tăng 200 đồng lên 23.700 đồng, mang lại 0,07 điểm. Một số mã tăng khác là ASM, BT6, VHC…
Quốc Thắng
Sau khi tăng được 35,38 điểm trong tuần trước, Vn-Index đột ngột giảm 15,16 điểm (-3,06%) xuống 479,9 điểm.
Toàn thị trường có 26 mã tăng, 221 mã giảm và 39 mã đứng giá. Số tăng chỉ mang về 0,33 điểm còn số giảm lấy đi 15,49 điểm.
Nhóm 10 cổ phiếu tác động mạnh nhất kéo Vn-Index đi xuống đã lấy đi 9,35 điểm, tương đương 62% mức giảm của chỉ số.
Tuần trước, 10 mã này mang về gần 27 điểm.
Đầu tàu kéo Vn-Index đi xuống là MSN: cổ phiếu này giảm sàn xuống 88.500 đồng qua đó lấy đi 2,17 điểm.
Tiếp đến là VIC (-1,79 điểm), HAG (-1,14 điểm), BVH (-0,96 điểm), DPM, PVF, VPL…
Phía tăng giá, SSI tăng 200 đồng lên 23.700 đồng, mang lại 0,07 điểm. Một số mã tăng khác là ASM, BT6, VHC…
Quốc Thắng
Campuchia sử dụng đồng riel cho thị trường chứng khoán
(Vietstock) - Sàn chứng khoán mới của Campuchia sẽ yết giá cổ phiếu bằng đồng nội tệ (riel) bất chấp mong muốn sử dụng đồng USD của nhà đầu tư nước ngoài.
Ủy ban Chứng khoán Campuchia (SECC) cho biết việc yết giá cổ phiếu trên Sở giao dịch Chứng khoán Campuchia (CSX) chỉ nên bằng đồng riel. Theo dự kiến, CSX sẽ bắt đầu giao dịch vào tháng 7 tới nhưng nhà đầu tư cho rằng thời gian thực tế có thể trì hoãn lâu hơn do các thủ tục hành chính.
Được biết, hiện phần lớn giao dịch tài chính tại Campuchia đều bằng đồng USD, chiếm tới 90% tiền gửi và tín dụng trong hệ thống ngân hàng.
SECC cho biết Chính phủ và Ngân hàng Trung ương Campuchia muốn độc lập hơn về vấn đề tiền tệ và đang tìm cách tăng cường sử dụng đồng riel.
Trước đó, nhà đầu tư nước ngoài thúc giục SECC sử dụng đồng USD, ít nhất trong giai đoạn đầu, vì việc sử dụng đồng riel sẽ khiến họ khó đánh giá rủi ro hơn.
Tuy nhiên, SECC cho rằng dù đồng riel sẽ được sử dụng trên thị trường sơ cấp và thứ cấp, nhưng giao dịch bằng đồng USD sẽ được chấp nhận trong thanh toán với sự đồng ý của các bên liên quan.
Trong một thông báo, SECC cho biết: “Việc tái thanh toán bằng đồng USD được chấp nhận trong ba năm đầu khi thị trường chứng khoán được thành lập”. Theo SECC, quyết định sử dụng đồng riel được đưa ra sau hai năm nghiên cứu và có tham khảo ý kiến của các công ty tư nhân, các học viện và tổ chức tài chính quốc tế cũng như của người dân.
Được biết, ngoài 3 doanh nghiệp nhà nước đầu tiên được chỉ định niêm yết trên sàn là Phnom Penh Water Supply Authority, Telecom Cambodia và Sihanoukville Autonomous Port; ít nhất 10 công ty tư nhân khác cũng muốn niêm yết trên CSX.
Năm ngoái, SECC đã cấp phép cho 15 công ty chứng khoán hoạt động trên CSX, trong đó có 7 nhà bảo lãnh, 4 nhà môi giới, 2 nhà tư vấn đầu tư và hai đại lý giao dịch. Đa số các công ty này đều thuộc sở hữu một phần hay toàn phần của các doanh nghiệp Malaysia, Việt Nam, Nhật Bản, Hàn Quốc và Mỹ.
Cuối tuần trước, Bộ trưởng Tài chính Campuchia Keat Chhon thúc giục các công ty tư nhân niêm yết để có thể huy động vốn mở rộng hoạt động kinh doanh. Chính phủ cũng đang xem xét ưu đãi thuế cho các công ty phát hành cổ phiếu ra công chúng.
Phạm Thị Phước (Theo Reuters)
Giảm lãi suất, không thể lỗi hẹn
Những ngày gần đây, Ngân hàng (NH) Nhà nước liên tục ban hành những quy định để giúp các NH có thể giảm lãi suất huy động, qua đó giảm lãi suất cho vay.
Nặng ký nhất là quy định về trần lãi suất huy động. Các năm trước, NH Nhà nước tuy muốn áp đặt nhưng lại tránh tiếng, đẩy cho Hiệp hội NH và các NH. Lần này, trần lãi suất được ban hành dưới dạng thông tư, quy định pháp lý, NH nào vi phạm, NH Nhà nước sẽ xử phạt.
Với NH, bị phạt hành chính không chỉ là nộp tiền phạt, mà quan trọng hơn là không thể mở rộng hoạt động vì NH Nhà nước không cấp phép nghiệp vụ cho những đơn vị vừa bị xử phạt vi phạm hành chính.
Trần lãi suất được ban hành bởi NH Nhà nước cũng giúp các NH mạnh dạn từ chối những đề nghị được thỏa thuận lãi suất từ người gửi tiền. Đúng hơn, nếu vận dụng tốt, NH không còn bị bên gửi tiền dẫn dắt lãi suất như thời gian qua.
Không chỉ thế, NH Nhà nước cũng giúp xóa bỏ tình trạng người gửi tiền mặc cả lãi suất bằng cách “hăm” sẽ rút tiền gửi trước hạn ở NH có lãi suất thấp sang gửi NH khác có lãi suất cao hơn.
Với quy định mới, từ nay nếu rút trước hạn, NH nơi đang nhận tiền gửi buộc phải áp mức lãi suất thấp nhất của tiền gửi không kỳ hạn, một hình thức phạt do phá vỡ kỳ hạn gửi tiền, mà không còn trả lãi suất theo thời gian thực gửi như trước. Như vậy, người gửi rút trước hạn để gửi nơi khác có lãi suất cao hơn chút đỉnh nhưng chưa hẳn đã bù đắp được khoản bị “phạt” do rút trước hạn.
Một quy định khác về kiểm soát tín dụng cũng sẽ buộc một số NH tới đây phải rời đường đua lãi suất huy động do không thể mở rộng cho vay.
Khác với các năm trước, áp lực tăng lãi suất huy động còn do các NH chạy đua hút vốn để cho vay. Nay NH Nhà nước cũng đã siết luôn đầu ra, NH nào cho vay nhiều quá, có thể làm vỡ kế hoạch kiểm soát tăng trưởng tín dụng không quá 20% sẽ bị chế tài phải tăng dự trữ bắt buộc. Đầu ra bị khống chế ắt NH cũng sẽ phải hạn chế huy động.
Với các quy định trên, hơn lúc nào hết, các NH có điều kiện giảm lãi suất cho vay, giảm gánh nặng cho doanh nghiệp và nền kinh tế, một nhiệm vụ mà hơn ba năm qua NH không thực hiện được.
Nhưng cũng không thể chủ quan cho rằng các quy định mới có thể kéo lãi suất giảm ngay. Bởi lẽ trong quá trình thực hiện, không loại trừ tình trạng xé rào, như đã từng xảy ra trong những năm qua. Mới đây, chỉ vài ngày sau khi trần lãi suất huy động có hiệu lực, đã xuất hiện trở lại những lời than phiền từ một số NH khi bị NH khác xé trần lãi suất để lôi kéo khách hàng.
Nếu phản ánh từ các NH là đúng thì sớm muộn gì cũng kéo nhiều NH cùng tham gia, nguy cơ giảm lãi suất cho vay vẫn chỉ là mục tiêu phải phấn đấu thực hiện.
Chưa hết, tới đây NH Nhà nước cũng phải làm rất nhiều việc để các NH thực hiện nghiêm quy định về tăng trưởng tín dụng.
Rồi chuyện trả lãi thấp cho người gửi tiền rút trước hạn cũng có thể bị xé rào vì trên thực tế nhiều NH muốn trả đủ lãi cho người rút trước hạn như một cách để lôi kéo người gửi tiền...
Doanh nghiệp đang theo dõi mọi diễn biến lãi suất để quyết định phương hướng làm ăn trong thời gian tới. Chắc chắn người vay không thể chấp nhận lãi suất vẫn cao mà nguyên nhân là do các NH không thực hiện nghiêm các giải pháp để giảm lãi suất.
| Nhiều chuyên gia NH cho rằng bên cạnh giải pháp hành chính cũng cần có giải pháp mang tính kinh tế để giảm lãi suất. Các quy định mà NH Nhà nước vừa ban hành chỉ giải quyết vấn đề giữa NH và người gửi tiền. NH Nhà nước cũng phải xử lý một số vấn đề mang tính nội bộ giữa các NH để đảm bảo thanh khoản cho một số NH. Sau khi tình hình trở lại bình thường, cần dỡ bỏ những giải pháp mang tính hành chính, để thị trường trở lại vận hành theo quy luật cung - cầu. |
T.Tu
tuổi trẻ
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)